Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chương 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan lí thuyết 2. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay những cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là nơi nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư Ở Việt Nam: theo quy định tại điều 20 khoản 2 và 7 luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10) được Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành thì: “NHTM là một tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Mặc dù có nhiều khái niệm như vậy, nhưng cũng có chung một tính chất: NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một TCTD thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội. Khái niệm, phân loại và cách thức hoạt động thẻ tín dụng 2.
Khái niệm Thẻ tín dụng (Credit Card) là một loại thẻ ngân hàng mà người sở hữu có thể dùng để thanh toán mà không cần tiền có sẵn trong thẻ. Điều này có nghĩa là khách hàng “mượn” một số tiền của ngân hàng để mua sắm, chi tiêu và cuối kỳ sẽ phải trả lại đầy đủ cho ngân hàng. Thẻ tín dụng được làm bằng chất liệu nhựa polyme với hình dạng và kích thước theo tiêu chuẩn ISO 7810. Tùy vào ngân hàng phát hành mà thẻ sẽ có màu sắc cùng thiết kế riêng biệt.
Dựa trên hồ sơ mở thẻ và mức độ uy tín của khách hàng (dựa trên thông tin CIC) mà ngân hàng sẽ cấp hạn mức thẻ tín dụng (số tiền trong thẻ tín dụng) ở những giá trị khác nhau. Phân loại Có hai loại thẻ tín dụng là: ❖ Thẻ tín dụng nội địa: Đây là loại thẻ chỉ có thể sử dụng thanh toán trong nước. ❖ Thẻ tín dụng quốc tế: Đây là loại thẻ tín dụng có thể thanh toán trong và ngoài nước trực tiếp mà không cần đổi tiền mặt. Thẻ tín dụng sẽ giúp khách hàng thanh toán thuận tiện và dễ dàng các chi phí mua sắm tại siêu thị, qua website tích hợp phương thức thanh toán trực tuyến, thanh toán hóa đơn hay đặt vé máy bay.
Cách thức hoạt động của thẻ tín dụng ❖ Chấp nhận thẻ Thẻ tín dụng được phát hành sau khi các nhà cung cấp thẻ đồng ý phê duyệt yêu cầu mở thẻ, ngay sau đó khách hàng có thể sử dụng để mua sắm, chi tiêu tại các điểm bán hàng chấp nhận thẻ và cả mua sắm online, trực tuyến. 7 ❖ Xác minh thẻ Khách hàng có thể mua hàng tại các điểm chấp nhận thẻ hoặc mua hàng qua internet cho các giao dịch mà không thể đến trực tiếp hoặc mà chỉ cần xác minh một số thông tin trên thẻ là có thể được. Nếu thanh toán bằng việc quẹt thẻ tín dụng thông qua các đầu đọc thẻ (POS – Point of Sale) chỉ trong vài giây hệ thống điện tử có thể xác định tính hợp lệ của thẻ cũng như số tiền trong hạn mức tín dụng có còn đủ để chi trả cho lần mua sắm. Các nhà bán hàng trực tuyến lại sử dụng một cách thức khác để xác minh tài khoản thẻ trong đó chủ thẻ thường phải cung cấp một số thông tin như mã số CVV/ CVC ở mặt sau của thẻ, địa chỉ hoặc mật khẩu định trước của thẻ.
❖ Thanh toán và nhận biên lai ❖ Sau khi xác nhận xong, hệ thống sẽ tự động trừ tiền trên thẻ tương ứng với số tiền đã mua sắm. Hàng tháng chủ thẻ sẽ nhận được một bảng sao kê trong đó thể hiện các giao dịch thực hiện bằng thẻ, các khoản phí và tổng số tiền nợ. Sau khi nhận bảng sao kê, chủ thẻ có quyền khiếu nại và bác bỏ một số giao dịch mà khách hàng không cho là đúng. Các mô hình nghiên cứu liên quan 2.
Mô hình hành vi có kế hoạch (TPB) Theo mô hình hoạch định TPB của Ajzen (1991) cho rằng hành vi của người tiêu dùng được giải thích bởi các ý định để thực hiện các hành vi đó. Các ý định bao gồm các nhân tố, động cơ, ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa như là mức nỗ lực mà con người cố gắng để thực hiện hành vi đó.1: Mô hình TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Mô hình TAM được xây dựng bởi Davis và cộng sự dùng để giải thích sự chấp nhận của cá nhân với công nghệ thông tin mới (IT) và xác minh rằng nhận thức hữu ích và nhận thức dễ sử dụng là những cấu trúc quan trọng để cá nhân chấp nhận.2: Mô hình TAM (Nguồn: Davis và cộng sự, 1989) 2. Mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB) Taylor và Todd (1995) đã bổ sung vào mô hình TAM hai yếu tố chính là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Nghiên cứu cho rằng việc tăng thêm các 9 yếu tố cho TAM kết hợp hành vi dự định TPB sẽ cung cấp một mô hình thích hợp cho việc sử dụng sản phẩm công nghệ thông tin.3: Mô hình C-TAM-TPB (Nguồn: Taylor và Todd, 1995) 2. Lược khảo các nghiên cứu trước 2.1 Nghiên cứu trong nước Bài nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Tiệp - 2015: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng phương thức thanh toán điện tử của người tiêu dùng. Mô hình của tác giả có 7 yếu tố độc lập tác động đến quyết định sử dụng.4: Mô hình tác động đến quyết định sử dụng phương thức thanh toán điện tử của người tiêu dùng. (Nguồn: Tạp chí Công thương) Nhân xét: Ngoài những nhân tố trong mô hình C-TAM-TPB qua nghiên cứu tổng quan và định tính tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu bằng cách thêm hai nhân tố: nhận thức rủi ro và niềm tin vào mô hình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quyết định sử dụng phương thức thanh toán điện tử của người tiêu dùng chịu tác động, ảnh hưởng 11 bởi 2 nhóm nhân tố: niềm tin và nhận thức rủi ro khi sử dụng phương thức thanh toán điện tử. Bài nghiên cứu của sinh viên Ngô Thị Kim Ngân (2016): “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Quảng Bình”. Mô hình nghiên cứu của tác giả bao gồm 4 yếu tố độc lập tác động đến ý định hành vi sử dụng thẻ tín dụng quốc tế.5: Mô hình nghiên cứu của Ngô Thị Kim Ngân (Nguồn: thư viện HCE) Nhận xét: Tác giả đã quyết định lựa chọn sử dụng mô hình TPB nguyên gốc của Ajzen để làm mô hình nghiên cứu. Tuy vậy khi phỏng vấn chuyên viên tư vấn ngân hàng và phỏng vấn chuyên sâu khách hàng, tác giả nhận thấy khách hàng rất quan tâm đến các chi phí phải bỏ ra khi quyết định lựa chọn thẻ tín dụng.
Cùng với những nghiên cứu trước đây cho thấy chi phí là yếu tố rất quan trọng làm cho người tiêu dùng e ngại khi sử dụng thẻ tín dụng. Vì thế, đề tài của Ngô Thị Kim Ngân quyết 12 định sử dụng mô hình TPB và bổ sung thêm biến “các chi phí liên quan đến thẻ tín dụng”. Kết quả nghiên cứu cho thấy “Các chi phí liên quan đến thẻ tín dụng quốc tế Sacombank” là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của khách hàng. Điều đó cho thấy chi phí là yếu tố quan trọng làm cho người tiêu dùng e ngại khi sử dụng thẻ tín dụng quốc tế.
Bên cạnh các biến chi phí thì các biến khác cũng có tác động lớn đến ý định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế. Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phan Thu Hằng (2021): Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến của hộ kinh doanh tại quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu của tác giả bao gồm 5 yếu tố độc lập tác động đến ý định hành vi sử dụng dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến.6: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Phan Thu Hằng (Nguồn: Tạp chí công thương) Nhận xét: nghiên cứu của tác giả dựa trên lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ TAM, mô hình thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT). Kết quả 13 nghiên cứu này là cơ sở để Ủy ban nhân dân quận 10 tham khảo về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến của hộ kinh doanh.
Từ đó, tác giả khuyến nghị Ủy ban nhân dân Quận 10 thực hiện một số giải pháp khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến đạt hiệu quả cao. Bài nghiên cứu của Trần Ngọc Mai Thy (2021): Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của sinh viên trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu của tác giả bao gồm 6 yếu tố độc lập tác động đến ý định hành vi sử dụng ví điện tử. Dễ sử dụng Tính hữu dụng Bảo mật Ý định sử dụng ví điện tử Sự tin tưởng Ảnh hưởng xã hội Thái độ Hình 2.
Mô hình nghiên cứu của Trần Ngọc Mai Thy (Nguồn: thư viện BUH) Nhận xét: nghiên cứu của tác giả dựa trên lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ TAM, mô hình thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT). Kết quả 14 nghiên cứu này đề xuất tập trung ưu tiên cải thiện các vấn đề liên quan đến bảo mật và xác thực thông tin khách hàng.