chương 1, bài khóa luận đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, các mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Những nội dung này sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về nội dung, từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về đề tài, các lý thuyết liên quan ở các chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về thẻ ghi nợ nội địa 2.1 Khái niệm về thẻ ghi nợ nội địa Theo Wikipedia: “Thẻ ghi nợ là loại thẻ thanh toán bằng nhựa cung cấp cho chủ thẻ để thanh toán thay cho tiền mặt. Thẻ ghi nợ được dùng giống như thẻ tín dụng, nhưng tiền được rút trực tiếp từ tài khoản ngân hàng khi thanh toán”.
Thẻ ghi nợ có giá trị theo giá trị của tài khoản thanh toán gắn liền với nó. Muốn sử dụng thẻ ghi nợ, chủ thẻ phải nạp tiền vào tài khoản thanh toán. Thẻ ghi nợ nội địa là thẻ ghi nợ do Agribank phát hành cho chủ thẻ để thực hiện giao dịch thẻ trong lãnh thổ Việt Nam. Thẻ ghi nợ nội địa có thể thực hiện giao dịch thẻ ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp giao dịch tại Tổ chức thanh toán thẻ nước ngoài kết nối qua NAPAS (Theo Quyết định số 2858/QĐ-NHNo-TTT ngày 28/12/2020 của Tổng Giám đốc Agribank).2 Phân loại thẻ ghi nợ Hiện nay, có hai loại thẻ ghi nợ được dùng phổ biến là thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế.
- Thẻ ghi nợ nội địa là loại thẻ ghi nợ thực hiện được đầy đủ tính năng như rút tiền, chuyển khoản , thanh toán hóa đơn tại ATM hay thanh toán tại các ĐVCNT (POS), nhưng chỉ có thể dùng trong nước. Thẻ ghi nợ nội địa hiện nay có thể thuộc hệ thống Banknet hoặc Smartlink. Các sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa, thẻ liên kết do ngân hàng Agribank phát hành, cho phép chủ thẻ sử dụng trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và hạn mức thấu chi để thực hiện chi tiền mặt, thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Thời hạn hiệu lực của thẻ: Thẻ ghi nợ nội địa có thời hạn hiệu lực sáu năm kể từ ngày phát hành, thẻ Lập nghiệp có thời hạn hiệu lực 5 năm kể từ ngày phát hành.
Thẻ liên kết sinh viên có thời hạn hiệu lực phù hợp với thời gian đào tạo theo khóa 8 học của trường, tối thiểu 3 năm kể từ ngày phát hành. Thẻ liên kết thương hiệu có thời hạn hiệu lực theo thỏa thuận hợp tác giữa ngân hàng Agribank – Chi nhánh Quảng Ngãi với tổ chức liên kết tối đa 5 năm kể từ ngày phát hành. Thẻ ghi nợ nội địa do Ngân hàng Agribank toàn quốc và Ngân hàng Agribank – Chi nhánh Quảng Ngãi phát hành gồm hai hạng, cụ thể: Hạng Chuẩn và hạng Vàng. - Thẻ ghi nợ quốc tế là loại thẻ ghi nợ có thể sử dụng để thanh toán và giao dịch ATM trên toàn cầu.
Thẻ này có thể mang thương hiệu Visa, MasterCard, JCB, UnionPay hoặc Amex…Thẻ cũng có đầy đủ tính năng giống như thẻ ghi nợ nội địa, ngoài ra có thể dùng để mua hàng online nước ngoài.3 Chức năng của thẻ ghi nợ nội địa Tại trạm ATM/CDM/POS của Ngân hàng Agribank - Tại trạm ATM/CDM người sử dụng có thể thực hiện các giao dịch như: rút tiền, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, thanh toán dư nợ thẻ tín dụng, mua mã trả trước, đăng ký dịch vụ, vân tin số dư tài khoản, đổi mã PIN và In sao kê…. Ngoài các chức năng trên, tại CDM có thêm chức năng gửi tiền và chức năng tiền gửi trực tuyến có kỳ hạn. - Tại POS ĐVCNT: Thanh toán hàng hóa, Mua mã trả trước, Thanh toán hóa đơn, Xác thực thẻ; Các chức năng, tiện ích khác; - Tại POS quầy giao dịch: Rút tiền mặt; Chuyển khoản; Nộp tiền vào tài khoản thanh toán; Vấn tin số dư tài khoản; In sao kê; Đổi PIN; Hủy giao dịch: rút tiền mặt, chuyển khoản, nộp tiền vào tài khoản thanh toán. Tại ATM/POS của TCTTT khác: Thực hiện theo quy định của Agribank và TCTTT khác.
Tại ứng dụng Agribank E-Mobile Banking: Khóa thẻ, Chuyển khoản, Phát hành thẻ phi vật lý, đăng ký dịch vụ Internet; vấn tin lịch sử giao dịch.4 Vai trò của thẻ ghi nợ nội địa đối với khách hàng Hệ thống máy trạm ATM phục vụ liên tục 24/24 giờ Thực hiện các giao dịch với mạng lưới trạm ATM/POS của ngân hàng Agribank và của các ngân hàng kết nối thanh toán thẻ với ngân hàng Agribank thuộc hệ thống Napas. Dịch vụ hỗ trợ khách hàng phục vụ 24 giờ/7 ngày Dịch vụ trả lương nhân viên qua thẻ ATM cho các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cán bộ hưu trí. Đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile Banking, Internet banking. Thực hiện thanh toán hàng hóa, dịch vụ qua website của nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ (Internet).
Dịch vụ thấu chi tài khoản phát hành thẻ với thời hạn tối đa là 12 tháng. Liên kết thẻ ghi nợ nội địa với ví điện tử Moca, MoMo, cổng thanh toán OnePay.2 Các mô hình thuyết về ý định hành vi 2.1 Khái niệm về ý định hành vi Theo Ajzen (1991), ý định hành vi bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mỗi cá nhân bỏ ra để thực hiện hành vi. Do đó, hành vi có thể bị ảnh hưởng bởi sự tự tin của một người về khả năng của mình để thực hiện hành vi, hành vi bị ảnh hưởng bởi kiểm soát hành vi nhận thức và ý định cũng như thái độ, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức hành vi gián tiếp thông qua ý định. Có hai lý do trực tiếp từ kiểm soát hành vi nhận thức đến hành vi thực tế: Thứ nhất, nếu ý định được giữ cố định, nỗ lực cần thiết để thực hiện hành vi này có thể sẽ tăng lên khi kiểm soát hành vi.
Ví dụ: nếu hai người có ý định mạnh mẽ như nhau, để tìm hiểu làm thế nào họ có thể sử dụng thẻ ghi nợ nội địa và nếu cả hai đều 10 cố gắng làm, như vậy thì người tin tưởng rằng họ có thể nắm vững hoạt động này có nhiều khả năng sử dụng thẻ ghi nợ hơn là một người nghi ngờ khả năng của mình. Thứ hai, nhận thức về kiểm soát hành vi, thường có thể được sử dụng như là một sự thay thế cho kiểm soát thực tế và ở mức độ kiểm soát nhận thức là một ước tính thực tế của kiểm soát thực tế, nhận thức kiểm soát hành vi sẽ giúp dự đoán hành vi thực tế.2 Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) Theo lý thuyết hành vi hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được phát triển vào năm 1967, sau đó tiếp tục phát triển bởi (Ajzen & Fishbein, 1975). Theo (Ajzen & Fishbein, 1975) yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của một người là ý định hành vi. Niềm tin và sự Thái độ hướng đánh giá đến hành vi Ý định Thực hiện hành vi hành vi Niềm tin theo Chuẩn chủ quan chuẩn mực và động cơ thúc đẩy Hình 2.1 Mô hình thuyết hành vi hợp lý (TRA) (Nguồn: Ajzen & Fishbein, 1975) Ý định của một cá nhân để thực hiện hành vi là sự kết hợp của hai yếu tố thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan.
Thái độ được xác định bởi niềm tin hành vi, đó là niềm tin tích cực hoặc tiêu cực của khách hàng đối với sản phẩm cũng như là niềm tin của khách hàng đối với các thuộc tính của sản phẩm. Mỗi thuộc tính sản phẩm có sự cần thiết và quan trọng khác nhau. Chuẩn chủ quan tức là một cá nhân sẽ có ý định thực hiện một hành vi nhất định khi nhận thấy rằng những người quan trọng nghĩ rằng họ nên. 11 TRA hoạt động thành công nhất khi áp dụng vào các hành vi dưới sự kiểm soát.
Nếu hành vi không phải là hoàn toàn dưới sự kiểm soát, ngay cả khi một người có động lực mạnh mẽ do thái độ và chuẩn chủ quan của mình, thì các cá nhân thực sự không thực hiện hành vi. Chính vì vậy mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) ra đời và được mở rộng từ mô hình TRA.3 Lý thuyết hành vi dự định (TPB) Hình 2.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) (Nguồn: Ajzen, 1991) Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) được phát triển và hoàn thiện dựa trên thuyết hành động hợp lý (TRA), gồm 3 nhân tố gồm: Thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận. Kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi. Điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi.
Ajzen (1991) cho rằng, kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu người tiêu dùng chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi.4 Mô hình thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) Davis (1985) đã đưa ra mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model- TAM) thừa nhận và áp dụng rộng rãi để kiểm tra mức độ chấp nhận của người sử dụng đối với các ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin, bao gồm: (1) Cảm nhận sự hữu ích, (2) Cảm nhận dễ sử dụng. 12 Ích lợi cảm nhận Các biến Thái độ Dự định Sử dụng hệ bên hướng đến hành vi thống thực ngoài sử dụng sự Sự dễ sử dụng cảm nhận Chuẩn chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.3 Mô hình kết hợp TAM và TPB (Nguồn: Taylor & Todd, 1995) Luarn và Lin (2005) đã mở rộng mô hình TAM ban đầu của Davis (1985) bằng cách thêm một số yếu tố có liên quan nhằm tìm hiểu quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking tại Đài Loan, bao gồm: (1) Cảm nhận sự tin tưởng, (2) Cảm nhận về chi phí; (3) Cảm nhận về tự tin. Còn Wu và Wang (2005) dựa trên mô hình TAM thêm vào: (1) Cảm nhận rủi ro (2) chi phí tài chính. Jeong và Yoon (2013) cũng dựa trên mô hình TAM mở rộng thành 5 cảm nhận của người sử dụng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng Mobile - Banking tại Singapore, bao gồm: Sự hữu ích, dễ sử dụng, sự tín nhiệm, tự cảm nhận hiệu quả và chi phi tài chính).
Hai tác giả Taylor & Todd (1995) đã bổ sung vào mô hình TAM 2 yếu tố chính là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.