Chương 1, tác giả trình bày giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm các phần: bối cảnh nghiên cứu, lý do chọn đề tài, thiết lập mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu, xác định đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và cuối cùng là kết cấu của đề tài khóa luận. [7] CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu Khái niệm khởi nghiệp Cụm từ khởi nghiệp luôn được nhắc đến nhiều và có sự thay đổi qua mỗi năm. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kì trong mỗi quốc gia thì sẽ có các định nghĩa riêng biệt về khởi nghiệp và không có định nghĩa nào là đúng nhất, là duy nhất mà chỉ có là phù hợp nhất. Khởi nghiệp được hiểu là hành động khởi đầu một nghề nghiệp, đối với cá nhân theo đuổi khởi nghiệp thì hoạt động này là giúp họ tạo ra công việc và thu nhập cho chính bản thân mình mà không phải đi làm thuê (Nguyễn Thị Thu Trang, 2020).
Hay nói cách khác khởi nghiệp là việc một cá nhân đứng ra thành lập lên doanh nghiệp mới dựa trên áp dụng hoặc sáng tạo khoa học công nghệ để mang lại sự đổi mới sáng tạo và các doanh nghiệp này được gọi là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (Nguyễn Ngọc Thị Kim Loan, 2020). Và điểm giống nhau của các khái niệm trên khởi nghiệp chính là cá nhân tạo ra một doanh nghiệp mới để không phải đi làm thuê cho người khác. Khái niệm ý định khởi nghiệp Theo Ajzen (1991) định nghĩa ý định chính là sự sẵn sàng của một người để thực hiện một hành động nhất định nào đó. Và ý định khởi nghiệp được hiểu là tiền thân chính của một dự án kinh doanh (Bird, 1988).
Mặt khác, ý định khởi nghiệp chính là sự sẵn sàng, là tiền đề để thực hiện một hành vi kinh doanh có chủ ý với mục tiêu, mong muốn được tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội (Định và cộng sự, 2021).2 Lý thuyết nền liên quan đến đề tài nghiên cứu Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) do Ajzen (1991) đây là mô hình được sử dụng rộng rãi giúp giải thích rõ nhất về ý định kinh doanh của một cá nhân. Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) cho rằng có ba tiền đề của ý định bao gồm: chuẩn chủ quan, thái độ cá nhân đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi). Áp dụng thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) vào ý định khởi nghiệp của sinh viên, đầu tiên thái độ của cá nhân đối với hành vi khởi nghiệp được hiểu là niềm tin trở thành một doanh nhân, thứ hai chuẩn chủ [8] quan là sự ủng hộ của người khác về ý định kinh doanh, và cuối cùng nhận thức kiểm soát hành vi là sự nhận thức về mức độ khó dễ để khởi nghiệp. Theo như lý thuyết này, nếu một cá nhân đánh giá tích cực và có cái nhìn bao quát về ba yếu tố trong thuyết thì ý định khởi nghiệp của cá nhân đó sẽ là càng được lựa chọn.3 Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài 2.1 Nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ- Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021).
Với nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ” của Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021) được thực hiện tại Cần Thơ. Nghiên cứu đề xuất ra 6 nhân tố độc lập, 1 nhân tố trung gian bao gồm: đặc điểm tính cách, thái độ với hành vi khởi nghiệp, nguồn vốn, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan, môi trường giáo dục và nhân tố trung gian là sự tự tin về tính khả thi. Để thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng tác giả đã sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất phân tầng, dữ liệu sẽ được thu thập thông qua bảng khảo sát trên 320 sinh viên và thu về được 310 phiếu khảo sát hợp lệ. Dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được mã hóa, làm sạch và phân tích trên phần mềm SPSS và AMOS qua các bước: đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính để kiểm định mô hình và các giả thuyết.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố tác động theo mức độ giảm dần đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: thứ nhất là nhân tố đặc điểm tính cách, tiếp là thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, môi trường giáo dục, nhận thức kiểm soát hành vi và cuối cùng là yếu tố nguồn vốn. Bên cạnh đó, yếu tố chuẩn chủ quan được tác giả kết luận là không có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra một vài hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai như: số lượng cỡ mẫu còn hạn chế khi sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), không so sánh được sự biến đổi từ lúc hình thành ý định đến khi xảy ra hành vi thực tế. Nghiên cứu cũng chỉ mới thực hiện ở 2 Khoa của DNC nên nghiên cứu sau này cần tăng số cỡ mẫu, khảo sát ở các Khoa khác, đồng thời đưa thêm những nhân tố mới vào mô hình nghiên cứu.
[9] Đặc điểm tính cách H1(+) Thái độ với hành vi khởi nghiệp H2(+) Nguồn vốn H3(+) H7(+) Ý định khởi Sự tự tin về nghiệp của tính khả thi sinh viên H4(+) Nhận thức kiểm soát hành vi H5(+) Chuẩn chủ quan H6(+) Môi trường giáo dục Hình 2. 1 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ (Nguyễn Văn Định và cộng sự, 2021) Nguồn: Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021) 2.2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang- Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020) [10] Thái độ đối với hành vi H1 (+) Quy chuẩn chủ quan H2 (+) Nhận thức kiểm soát hành vi H3 (+) Giáo dục khởi nghiệp H4 (+) Ý định khởi nghiệp H5 (+) Kinh nghiệm H6 (+) Đặc điểm tính cách H7 (+) Nguồn vốn Hình 2. 2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang (Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang, 2020) Nguồn: Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020) Với “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang” của Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020) được thực hiện tại Tiền Giang dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991). Nghiên cứu đề xuất 7 biến độc lập bao gồm: thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, đặc điểm tính cách và nguồn vốn.
Để thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng tác giả đã sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất với kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện, dữ liệu sẽ được thu thập thông qua bảng khảo sát trên 280 sinh viên và thu về được 270 phiếu khảo sát hợp lệ. Tác giả đã phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 22.0 để kiểm định độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang: thứ nhất là nhân tố đặc điểm tính cách, tiếp là giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, nhận thức kiểm soát hành vi và cuối cùng là quy chuẩn chủ quan. Nghiên cứu này [11] có ý nghĩa quan trọng đối với các đơn vị đào tạo trong việc mang đến cái nhìn tổng quát và mới mẻ về ý định khởi nghiệp của sinh viên, để có thể kịp thời đưa ra các chính sách thích hợp nhằm mục đích phát huy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trong tương lai.
Những công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến đề tài 2.1 Nghiên cứu: Giáo dục gia đình? Mở rộng các yếu tố của phụ huynh cho du lịch và ý định kinh doanh của sinh viên khách sạn- Liu và Zhao (2021) Với nghiên cứu “Giáo dục gia đình? Mở rộng các yếu tố của phụ huynh cho du lịch và ý định kinh doanh của sinh viên khách sạn của Liu và Zhao (2021) được thực hiện tại trung Quốc. Nghiên cứu đề xuất ra 3 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên bao gồm: Thái độ cá nhân, nhận thức kiểm soát hành vi và nhân tố thái độ cha mẹ. Trong đó, hai nhân tố thái độ cá nhân và nhận thức kiểm soát hành vi vừa là biến độc lập đồng thời cũng là biến trung gian. Để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu định lượng, tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi và đã phát ra cho 570 sinh viên nhưng chỉ thu về được 494 phiếu và sau khi lọc và làm sạch số liệu chỉ còn 480 phiếu khảo sát là hợp lệ, 14 phiếu đã được xoá bỏ do thiếu dữ liệu.
Dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được làm sạch và phân tích qua các bước: kiểm tra độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên phần mềm SPSS 22, phân tích nhân tố khẳng định CFA và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trên công cụ MLM trong Mplus7. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng thái độ của cha mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ cá nhân và nhận thức kiểm soát hành vi, và cuối cùng tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Kết quả của nghiên cứu góp phần bổ sung vào các cuộc thảo luận học thuật đang diễn ra xung quanh ý định khởi nghiệp của sinh viên du lịch và khách sạn, đồng thời nghiên cứu này thách thức các nhà hoạch định chính sách xem xét các cách thức mới để thúc đẩy tinh thần kinh doanh. [12] Thái độ cá nhân Ý định kinh Thái độ cha doanh mẹ Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.
3 Mô hình nghiên cứu Giáo dục gia đình?