chương 1 Bình thuận là nơi có diện tích trồng cây thanh long lớn nhất nước, vì vậy việc cần vốn để phát triển quy mô canh tác cây thanh long là rất cần thiết. Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính 8 thức của hộ nông dân trồng thanh long trên địa bàn tỉnh Bình Thuận” là rất cần thiết, việc xác định mục tiêu, phương pháp, ý nghĩa của đề tài là cơ sở khoa học để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các nông hộ trồng cây thanh long trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về tiếp cận tín dụng của hộ nông dân 2.
Một số khái niệm liên quan đến hộ nông dân và kinh tế nông hộ 2. Khái niệm liên quan đến hộ nông dân Hộ: là những người có cùng chung huyết thống, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng (Rosenzweig & Stark, 1989). Nông dân: là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng làm ruộng với tư liệu sản xuất là đất đai.
Hộ gia đình: theo khoản 29 điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Hộ nông dân: là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản suất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được tham gia từng phần vào thị trường sản xuất (Rosenzweig & Stark, 1989). Khái niệm liên quan đến kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ: là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt. Đất đai 10 thường bị giới hạn về diện tích không thể tăng thêm, nhưng độ phì nhiêu trong đất có thể tăng, nếu con người biết khai thác sử dụng hợp lý sẽ tạo khả năng tăng năng suất không ngừng.
Một số khái niệm liên quan tín dụng hộ nông dân. Khái niệm về tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng là sự vay mượn, hay nói cách khác là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoản trả lại một lượng giá trị lớn hơn. Tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam cho rằng đó là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay mượn và bên đi vay mượn. Theo đó, bên cho vay mượn chuyển giao một lượng vốn tiền tệ hoặc tài sản để bên vay sử dụng có thời hạn, khi đến hạn bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn hoặc tài sản ban đầu và lãi suất vay.
Tín dụng theo quan điểm kinh tế học hiện đại cho rằng đó là quan hệ được thực hiện trên cơ sở lòng tin, có nghĩa là người cho vay tin tưởng vào người đi vay sử dụng vốn có hiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi. Như vậy, tín dụng là hình thức vận động của tiền tệ, song nó cũng thể hiện mối quan hệ quan hệ kinh tế gắn liển với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Khái niệm về tín dụng chính thức 11 Xét theo phương diện tổ chức, tín dụng được chia thành hai hình thức: (1) tổ chức tín dụng chính thức và (2) tổ chức tín dụng phi chính thức. (1) Tổ chức tín dụng chính thức là tổ chức huy động vốn và cho vay vốn chính thống có đăng ký kinh doanh và hoạt động công khai theo quy định của pháp luật và chịu sự quản lý, giám sát của chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương.
Tổ chức tín dụng chính thức có nhiều chương trình ưu đãi cho vay nông hộ tại Bình Thuận bao gồm: Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNN&PTNT) và Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND). Trong đó, NHNN&PTNT hoạt động như một ngân hàng thương mại thì NHCSXH hoạt động như một tổ chức tài chính vi mô theo nguyên tắc không tối đa hóa lợi nhuận và được xem như là công cụ chính sách xã hội chính trong việc tiếp cận vốn đến cho các hộ nông dân nghèo, khó khăn với lãi suất cho vay rất thấp. Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo luật hợp tác xã và chỉ hỗ trợ cho xã viên vay dù nhận tiền gửi của xã viên và những người không phải xã viên. Lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi do Ngân hàng nhà nước ấn định và thường cao hơn lãi suất của NHNN&PTNN và NHCSXH.
(2) Tổ chức tín dụng phi chính thức là các tổ chức, cá nhân nằm ngoài cá tổ chức hính thức như hệ thống các ngân hàng thương mại, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các cơ quan tài trợ thực hiện. Ví dụ như: thương nhân địa phương, các nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, các quỹ quốc tế và tổ chức phi chính phủ hỗ trợ tín dụng thông qua các chương trình hỗ trợ cây giống, kỹ thuật gieo trồng cho nông dân. Khái niệm về tín dụng hộ nông dân Tín dụng đối với hộ nông dân là những khoản tín dụng dành riêng cho hộ nông dân có sức lao động nhưng thiếu vốn để sản xuất kinh doanh trong một 12 khoản thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi. Lãi suất tùy thuộc vào từng nguồn vốn tiếp cận từ các tổ chức tín dụng khác nhau sẽ có mức lãi suất khác nhau.
Suy cho cùng, mục tiêu cuối cùng của tín dụng nông dân là đáp ứng nhu cầu về vốn cho các nông hộ để họ mau chóng thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Khái niệm về tiếp cận tín dụng Khả năng tiếp cận tín dụng: là mức độ tín dụng mà người vay có khả năng nhận được hoặc không nhận được các khoản vay tín dụng. Hạn mức tín dụng: là giới hạn cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng cấp cho người vay trong một khoảng thời gian nhất định. Khả năng bị giới hạn tín dụng: là khả năng mà người đi vay có thể nhận được các khoản vay với số tiền vay ít hơn nhu cầu xin vay (Petric, 2004).
Các lý thuyết tiếp cận tín dụng nông hộ 2. Cung và cầu tín dụng chính thức của nông hộ Vốn tín dụng là một nguồn tài nguyên khan hiếm và khả năng tiếp cận tín dụng của người đi vay phụ thuộc rất nhiều vào cách đánh giá rủi ro và quyết định cho vay của nhà cung cấp tín dụng. Việc tiếp cận tín dụng được bắt đầu với lý thuyết cầu tín dụng của một cá nhân hay một hộ gia đình với mong muốn tối đa hữu dụng kỳ vọng của họ từ việc vay tiền từ các nhà cung cấp tín dụng. Mỗi đơn vị tiền tệ đều có chi phí cơ hội, đó chính là lãi suất cho vay của nhà cung cấp tín dụng.
Do vậy, quyết định cung tín dụng phụ thuộc vào lãi suất cho vay. Tuy nhiên, Stiglitz và Weiss (1981) cho rằng lý thuyết cung cầu tín dụng không thể giải thích khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của người đi vay do quyết định cung tín dụng không được điều chỉnh bởi lãi suất trên thị 13 trường, quyết định cho vay phụ thuộc vào cách mà người cho vay lựa chọn người đi vay dựa trên thông tin của người đi vay. Theo Stiglitz và Weiss (1981) với giả định thị trường tín dụng là không hoàn hảo lập luận rằng phân phối tín dụng theo cơ chế phi giá cả không chỉ là kết quả của sự can thiệp của Chính phủ mà còn từ hành vi của người cho vay và người đi vay trong môi trường bất cân xứng thông tin ở thị trường tín dụng. Thông tin bất cân xứng trong hợp đồng cho vay làm cho người cho vay không thể phân biệt và đánh giá được chính xác mức độ rủi ro cũng như mức độ cố gắng hoàn trả nợ vay của người đi vay.
Thông tin bất cân xứng tạo ra vấn đề lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Vấn đề lựa chọn bất lợi, rủi ro phát sinh trong quá trình lựa chọn đối tượng cho vay được phản ánh qua lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí giao dịch cao của các khoản vay do giảm người đi vay có khả năng vay và trả nợ vay tốt, ít rủi ro, kết quả người cho vay chỉ cho vay những dự án có rủi ro cao. Rủi ro về đạo đức liên quan đến giám sát và thực thi cơ chế cho vay, cụ thể là khả năng người đi vay không nỗ lực hoàn trả nợ sau khi nhận được khoản vay vì họ biết người cho vay phải gánh chịu một phần rủi ro.
Aghiton &ctg (2010) cho rằng hạn chế tín dụng là vấn đề phổ biến mà các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và nông hộ phải đối mặt bất kể khả năng trả nợ của họ. Nói cách khác, tín dụng không chỉ đơn thuần tuân theo quy luật của lý thuyết cung và cầu mà là quá trình cân nhắc, xem xét nộp đơn xin vay của người đi vay và người cho vay xác định số tiền vay dựa trên các tiêu chí đánh giá của người cho vay để quyết định khoản vay và giải ngân (Aleen, 1990). Theo Attanasio & Davis (1996) với giả thuyết thu nhập cả đời, lập luận rằng sự khác biệt giữa thu nhập và chi tiêu (do đó tiết kiệm hoặc vay) được xác định bởi các hộ gia đình lựa chọn mức độ tiêu dùng tối ưu trong từng thời kỳ, với ràng buộc ngân sách lên thời gian. Khi giá trị hiện tại của thu nhập dự kiến sẽ 14 tăng, thì giảm tiết kiệm được xem là tối ưu: các hộ gia đình sẽ giảm bớt tài sản, hoặc vay nếu tài sản không có sẵn, ngược lại, các hộ gia đình sẽ tiết kiệm được nếu họ dự đoán thu nhập thấp hơn trong tương lai.