chương 1 sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về đề tài và là tiền đề cho các chương sau. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm quyết định hành vi Theo Simon (1986), ra quyết định là một chuỗi các bước mà cá thể nhận thức vấn đề dẫn đến việc lựa chọn một niềm tin hoặc quá trình lựa chọn các khả năng thay thế khác. Mỗi một quá trình ra quyết định sẽ tạo ra được một lựa chọn cuối cùng và điều ấy có thể hoặc là không thể đưa đến lợi ích cho hành động. Ra quyết định là quá trình xác định các lựa chọn và chọn ra các lựa chọn thay thế dựa trên nền tảng là các giá trị, sở thích và niềm tin của người ra quyết định Ra quyết định là một quá trình bao gồm các bước cơ bản như xác định vấn đề, hình thành các phương án tối ưu, lựa chọn một phương án tối ưu nhất để thông qua và cuối cùng là văn bản hoá quyết định (Minh Lan, 2019) Ra quyết định là hoạt động lựa chọn hành động làm gì, hoặc không làm gì để đạt được các mục tiêu đề ra (Yates & Zukowski, 1976).
Hay nói một cách khác, quyết định là các cam kết hành động, sự phân bổ các nguồn tài nguyên (Mintzberg & các cộng sự, 1976).2 Khái niệm làm thêm Công việc làm thêm được định nghĩa là việc làm mà trong đó số thời gian làm việc ít hơn bình thường (Thurman & Trah, 1990). Theo Arne (2000), tổng thời gian làm việc trung bình mỗi tuần được qui định làm căn cứ phân loại công việc bán thời gian và toàn thời gian ở các quốc gia khác nhau. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số lượng lao động bán thời gian đã tăng từ 1/4 lên 1/2 trong 20 năm qua ở hầu hết các nước phát triển, ngoại trừ Hoa Kỳ. Có nhiều lý do khiến bạn phải làm việc bán thời gian, bao gồm cả mong muốn được làm như vậy, bị chủ lao động cắt giảm giờ làm và không thể tìm được việc làm toàn thời gian.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm Theo nghiên cứu của Hielke (2004) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đi làm thêm bao gồm chu kì kinh doanh, tổ chức thị trường lao động và chính sách, các yếu tố cấu trúc khác 7 - Chu kì kinh doanh Chu kì kinh doanh ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ lệ việc làm bán thời gian trong ngắn hạn đến trung bình kì hạn.
Điều này đồng nghĩa với việc tỷ lệ làm việc bán thời gian có thể phản ứng khác với chu kì kinh doanh ảnh hưởng liên quan đến việc làm toàn thời gian Theo OECD, 1995, Delsen, 1998 xác định chu kì kinh doanh ảnh hưởng đến việc làm bán thời gian. Về mặt nhu cầu có thể có hai tác động chủ yếu là có một hiệu ứng thành phần và sự thay đổi trong các lĩnh vực - Tổ chức thị trường lao động và chính sách Trong khi chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng đến ngắn hạn và trung hạn sự thay đổi tỷ lệ việc làm bán thời gian thì các yếu tố thị trường lao động và chính sách lại ảnh hưởng dài hạn đến tỷ lệ bán thời gian Theo Smith và cộng sự (1998) nghiên cứu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng lên của công việc bán thời gian ở châu Âu cho thấy các quy định cụ thể về công việc bán thời gian có thể sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển việc làm bán thời gian qua ba cơ chế. Đầu tiên, một số quy định ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thời gian làm việc thông qua việc hạn chế sử dụng công việc làm thêm. Thứ hai, một số quy định ảnh hưởng gián tiếp đến việc làm bán thời gian thông qua các quy định về tiền lương và hệ thống bảo trợ xã hội, phúc lợi.
Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi công việc toàn thời gian thành công việc bán thời gian để có thể dung hoà giữa cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp Theo Bentolila và Dolado (1994) sự nghiêm ngặt của luật bảo vệ việc làm có thể gây ra hai tác động trái ngược nhau. Đầu tiên, nó có thể sử dụng công việc bán thời gian để phá vỡ luật làm việc cứng nhắc của công việc toàn thời gian. Thứ hai, luật bảo vệ việc làm ở một số quốc gia có thể gây ảnh hưởng trực tiếp một cách tiêu cực đến việc làm bán thời gian bằng cách hạn chế công việc bán thời gian. Theo Doudeijn (1998), việc khó khăn về tài chính gây lên tác động đáng kể về quyết định làm việc bán thời gian, vì công việc bán thời gian không mang lại thu nhập cao.
8 Ngược lại, lợi ích của việc nâng cao các tiêu chí về điều kiện làm việc và tăng cường kiểm soát thực hiện giúp giảm bớt những khó khăn về tài chính. - Các yếu tố cấu trúc khác: Sự gia tăng tỷ lệ phụ nữ làm việc bán thời gian tỉ lệ thuận với sự gia tăng tỷ lệ của công việc bán thời gian. Việc làm bán thời gian là con đường giúp phụ nữ gia nhập vào thị trường lao động ở những quốc gia có tỷ lệ tham gia làm việc bán thời gian thấp vào những năm 1960 và 1970. Tương tự, sự gia tăng tỷ lệ sinh và số thành viên trong gia đình cũng làm tăng nhu cầu làm việc bán thời gian thay vì toàn thời gian để có thể cân bằng giữa cuộc sống và công việc Tỷ lệ đi học của nhóm dân số từ 15 đến 24 tuổi có khả năng ảnh hưởng một cách tích cực đến tỷ lệ làm việc bán thời gian Từ phía nhu cầu lao động, sinh viên cung cấp lao động tương đối rẻ và linh hoạt.
Còn về phía cung lao động, sinh viên chủ yếu tìm kiếm công việc bán thời gian để trang trải chi phí học tập. Một số sinh viên có thể sẵn sàng làm công việc bán thời gian để tích luỹ được kinh nghiệm chuyên môn. Sự khác biệt về tiền lương và chi phí ngoài lương giữa công việc bán thời gian và toàn thời gian có thể làm cho công việc bán thời gian có lợi cho doanh nghiệp.4 Khái niệm về Grab Bike GrabBike là loại hình sử dụng xe gắn máy hay mô tô để đưa đón khách, chi phí phải trả cũng được hiển thị ngay sau khi khách đặt xe, giống với Grabcar, nhưng giá cước rẻ hơn nhiều. GrabBike phù hợp trên mọi địa hình, giá cả lại rẻ nên rất phù hợp cho người Việt Nam (Bitcoin Vietnam New, 2021).5 Khái niệm về sinh viên Sinh viên là những người đăng kí vào các trường hoặc vào các cơ sở giáo dục khác nhau.
Ở đấy họ được đòa tạo một cách bài bản về một ngành nghề để chuẩn bị co công việc sau này họ làm. Ngoài ra, còn dùng những thời gian bên ngoài lớp học để thực hiện các yêu cầu khác của giáo viên hướng dẫn để chuẩn bị cho lớp học hoặc để chứng minh cho 9 sự tiến bộ trong thời gian học. Họ được xã hội công nhận kết quả qua những bằng cấp trong quá trình học (HocLuat.2 Mô hình lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan 2.1 Mô hình lý thuyết có liên quan 2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Hệ thống nhu cầu của Maslow (1943) được sử dụng vào nghiên cứu cách thức mà con người thực sự tham gia vào động lực hành vi. Maslow đã sử dụng các thuật ngữ như : sinh lý, an toàn, thuộc về tình yêu, nhu cầu xã hội, lòng tự trọng hoặc tự thể hiện để mô tả được mô hình mà động lực hành vi của con người thường di chuyển.
Điều này đồng nghĩa với việc để cho động lực có thể phát sinh ở những giai đoạn tiếp theo thì mỗi giai đoạn phải được thoả mãn trong chính cá nhân của họ. Hệ thống phân cấp của Maslow đã được sửa đổi theo thời gian. Hệ thống phân cấp ban đầu nói rằng mức độ thấp hơn phải được thoả mãn và hoàn thành trước khi chuyển sang một mục tiêu cao hơn. Tuy nhiên, ngày nay các học giả thích nghĩ về các cấp độ này là liên tục chồng chéo lẫn nhau.
Điều này cũng có nghĩa là các cấp thấp hơn có thể được ưu tiên trở lại so với các cấp khác tại bất kì thời điểm nào. Hệ thống nhu cầu của Maslow thường được mô tả theo hình dạng kim tự tháp với những nhu cầu từ cơ bản nhất đến siêu việt. Tháp nhu cầu của Maslow được thể hiện qua 5 tầng tháp: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu được giao lưu tình cảm và trực thuộc, nhu cầu được quý trọng và kính mến, cuối cùng là nhu cầu về tự thể hiện bản thân 10 Hình 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Maslow (1943) - Nhu cầu sinh lý Nhu cầu sinh lý là một khái niệm nguồn để giải thích và nuôi dưỡng nền tảng của các động lực khác. Đây là yêu cầu vật lí chính cho sự sống còn của con người.
Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người. Nhu cầu sinh lý là những yêu cầu cơ bản trong cuộc sống của mỗi con người bao gồm: cân bằng nội môi, sức khoẻ, thực phẩm và nước, ngủ, quần áo, nơi cư trú. - Nhu cầu an toàn Khi nhu cầu sinh lý của một con người được thoả mãn thì nhu cầu an toàn của họ mới được ưu tiên và chi phối hành vi. Nhu cầu an toàn và an ninh là việc giữ cho chúng ta an toàn, tránh khỏi các tổn hại.
Cá nhân sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu an toàn của mình trước khi tìm kiếm bất cứ mức sống nào cao hơn. Tuy nhiên, nhu cầu an toàn không quan trọng bằng nhu cầu sinh lý đơn giản - Nhu cầu xã hội Nhu cầu xã hội được đáp ứng khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn đã được thoả mãn. Nhu cầu này phát triển mạnh mẽ trong thời thơ ấu và có khả năng vượt qua cả nhu cầu an toàn như đã được quan sát ở những đứa trẻ phải ở với cha mẹ bạo hành, ngược đãi. Nhu cầu xã hội bao gồm tình bạn, sự thân mật, tình gia đình.
Người có nhu cầu tình cảm 11 về cảm giác muốn thuộc về và được chấp nhận trong một nhóm xã hội nào đó dù lớn hay nhỏ. - Nhu cầu được tôn trọng Hầu hết các cá nhân đều có nhu cầu tự tôn và lòng tự trọng ổn định. Maslow đã chú trọng hai phiên bản về nhu cầu quý trọng bao gồm: phiên bản thấp hơn và phiên bản cao hơn.