Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Tham Gia Chạy Grab Bike Của Sinh Viên Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Chuyên khảo phân tích Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chạy grab bike của sinh viên tại thành phố hồ chí minh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2021

126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

1.6.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

1.7. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu

1.8. Kết cấu đề tài nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Một số khái niệm liên quan

2.1.1. Khái niệm quyết định hành vi

2.1.2. Khái niệm làm thêm

2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm

2.1.4. Khái niệm về Grab Bike

2.1.5. Khái niệm về sinh viên

2.2. Mô hình lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan

2.2.1. Mô hình lý thuyết có liên quan

2.2.1.1. Thuyết nhu cầu của Maslow
2.2.1.2. Học thuyết ra quyết định (individual decision-making theory)
2.2.1.3. Mô hình chấp nhận công nghệ

2.2.2. Lược khảo các nghiên cứu liên quan

2.2.2.1. Các nghiên cứu nước ngoài
2.2.2.2. Các nghiên cứu trong nước

2.2.3. Bảng ma trận tổng hợp một số nghiên cứu khác có liên quan

2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết

2.3.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chạy Grab Bike của sinh viên tại Thành Phố Hồ Chí Minh

2.3.2.1. Tăng thêm thu nhập
2.3.2.2. Tăng thêm kinh nghiệm
2.3.2.3. Tận dụng thời gian rảnh
2.3.2.4. Xây dựng mối quan hệ
2.3.2.5. Nhu cầu cá nhân
2.3.2.6. Cải thiện kỹ năng

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu

3.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Nghiên cứu định tính

3.3.1. Nghiên cứu định tính hoàn thiện mô hình

3.3.2. Nghiên cứu định tính xây dựng thang đo

3.3.2.1. Thang đo biến độc lập “thu nhập”
3.3.2.2. Thang đo biến độc lập “Tăng thêm kinh nghiệm”
3.3.2.3. Thang đo biến độc lập “tận dụng thời gian”
3.3.2.4. Thang đo biến độc lập “xây dựng mối quan hệ”
3.3.2.5. Thang đo biến độc lập “nhu cầu cá nhân”
3.3.2.6. Thang đo biến độc lập “cải thiện kỹ năng”
3.3.2.7. Thang đo cho biến phụ thuộc “quyết định tham gia chạy Grab Bike”

3.3.3. Xây dựng bảng khảo sát

3.4. Nghiên cứu định lượng

3.4.1. Phương pháp chọn mẫu

3.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.4.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

3.4.3.1. Thống kê mô tả
3.4.3.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo
3.4.3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA
3.4.3.4. Phân tích tương quan, hồi quy
3.4.3.5. Phân tích phương sai ANOVA

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Giới thiệu tình hình sinh viên tham gia chạy Grab bike hiện nay

4.2. Phân tích thống kê mô tả

4.2.1. Thống kê mô tả biến giới tính

4.2.2. Thống kê mô tả biến khoa đang theo học

4.2.3. Thống kê mô tả biến năm đang học

4.2.4. Thống kê mô tả biến thời gian chạy Grab Bike

4.2.5. Thống kê mô tả biến thời gian chạy Grab Bike trung bình mỗi tuần

4.2.6. Thống kê mô tả biến thu nhập hàng tháng

4.3. Phân tích độ tin cậy Cronbach’ Alpha

4.3.1. Thang đo thu nhập

4.3.2. Thang đo tăng thêm kinh nghiệm

4.3.3. Thang đo tận dụng thời gian

4.3.4. Thang đo xây dựng mối quan hệ

4.3.5. Thang đo nhu cầu cá nhân

4.3.6. Thang đo nâng cao kỹ năng

4.3.7. Thang đo quyết định tham gia

4.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.4.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập

4.4.2. Phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc

4.5. Phân tích tương quan, hồi quy

4.5.1. Phân tích tương quan

4.5.2. Phân tích hồi quy

4.6. Phân tích phương sai ANOVA

4.6.1. Khoa đang theo học

4.6.2. Thời gian trung bình

4.6.3. Thu nhập hàng tháng

4.7. Thảo luận về kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Kết luận chung về nghiên cứu

5.2. Hàm ý quản trị cho doanh nghiệp khi sinh viên khi có quyết định tham gia chạy Grab Bike tại Thành Phố Hồ Chí Minh

5.2.1. Yếu tố thu nhập

5.2.2. Yếu tố tận dụng thời gian

5.2.3. Yếu tố xây dựng mối quan hệ

5.2.4. Yếu tố nhu cầu cá nhân

5.2.5. Yếu tố cải thiện kỹ năng

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu

5.3.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

DANH MỤC PHỤ LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chạy Grab Bike của sinh viên

Trong bối cảnh hiện nay, việc làm thêm của sinh viên đang trở thành một chủ đề nóng hổi. Grab Bike, một dịch vụ xe ôm công nghệ, đã thu hút sự quan tâm của nhiều sinh viên tại TP.HCM. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chạy Grab Bike của sinh viên, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp.

1.1. Tại sao sinh viên chọn Grab Bike

Nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm của sinh viên ngày càng cao. Grab Bike không chỉ đáp ứng nhu cầu di chuyển mà còn tạo cơ hội kiếm thêm thu nhập cho sinh viên.

1.2. Lợi ích của việc chạy Grab Bike

Chạy Grab Bike giúp sinh viên tăng thu nhập, cải thiện kỹ năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ xã hội. Đây là những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển cá nhân.

II. Các thách thức trong quyết định tham gia chạy Grab Bike

Mặc dù có nhiều lợi ích, nhưng sinh viên cũng phải đối mặt với nhiều thách thức khi quyết định tham gia chạy Grab Bike. Những thách thức này có thể ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng của họ.

2.1. Chi phí và thời gian di chuyển

Chi phí vận hành xe và thời gian di chuyển là hai yếu tố quan trọng. Sinh viên cần cân nhắc giữa thời gian học tập và thời gian làm việc.

2.2. An toàn giao thông

An toàn giao thông là một trong những mối quan tâm hàng đầu của sinh viên khi tham gia chạy Grab Bike. Việc đảm bảo an toàn cho bản thân và hành khách là rất quan trọng.

III. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chạy Grab Bike của sinh viên. Các mô hình lý thuyết sẽ được áp dụng để phân tích dữ liệu.

3.1. Mô hình lý thuyết Maslow

Mô hình nhu cầu của Maslow sẽ được sử dụng để phân tích động lực tham gia của sinh viên. Các nhu cầu từ cơ bản đến cao cấp sẽ được xem xét.

3.2. Phương pháp khảo sát

Khảo sát sẽ được thực hiện qua bảng hỏi để thu thập dữ liệu từ sinh viên. Dữ liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để đưa ra kết quả chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như thu nhập, thời gian rảnh và nhu cầu cá nhân có ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia chạy Grab Bike của sinh viên. Những kết quả này có thể giúp doanh nghiệp cải thiện chiến lược thu hút sinh viên.

4.1. Tăng thu nhập và cải thiện kỹ năng

Nghiên cứu chỉ ra rằng việc chạy Grab Bike giúp sinh viên tăng thu nhập và cải thiện kỹ năng giao tiếp, điều này rất quan trọng trong quá trình phát triển nghề nghiệp.

4.2. Xây dựng mối quan hệ xã hội

Chạy Grab Bike cũng giúp sinh viên xây dựng mối quan hệ xã hội, điều này có thể tạo ra nhiều cơ hội trong tương lai.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chạy Grab Bike của sinh viên tại TP.HCM. Những kết quả này không chỉ có giá trị cho doanh nghiệp mà còn cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

5.1. Hàm ý quản trị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần chú trọng đến các yếu tố như thu nhập và thời gian làm việc của sinh viên để thu hút họ tham gia.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về động lực và thách thức mà sinh viên gặp phải khi tham gia chạy Grab Bike.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về đề tài và là tiền đề cho các chương sau. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm quyết định hành vi Theo Simon (1986), ra quyết định là một chuỗi các bước mà cá thể nhận thức vấn đề dẫn đến việc lựa chọn một niềm tin hoặc quá trình lựa chọn các khả năng thay thế khác. Mỗi một quá trình ra quyết định sẽ tạo ra được một lựa chọn cuối cùng và điều ấy có thể hoặc là không thể đưa đến lợi ích cho hành động. Ra quyết định là quá trình xác định các lựa chọn và chọn ra các lựa chọn thay thế dựa trên nền tảng là các giá trị, sở thích và niềm tin của người ra quyết định Ra quyết định là một quá trình bao gồm các bước cơ bản như xác định vấn đề, hình thành các phương án tối ưu, lựa chọn một phương án tối ưu nhất để thông qua và cuối cùng là văn bản hoá quyết định (Minh Lan, 2019) Ra quyết định là hoạt động lựa chọn hành động làm gì, hoặc không làm gì để đạt được các mục tiêu đề ra (Yates & Zukowski, 1976).

Hay nói một cách khác, quyết định là các cam kết hành động, sự phân bổ các nguồn tài nguyên (Mintzberg & các cộng sự, 1976).2 Khái niệm làm thêm Công việc làm thêm được định nghĩa là việc làm mà trong đó số thời gian làm việc ít hơn bình thường (Thurman & Trah, 1990). Theo Arne (2000), tổng thời gian làm việc trung bình mỗi tuần được qui định làm căn cứ phân loại công việc bán thời gian và toàn thời gian ở các quốc gia khác nhau. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số lượng lao động bán thời gian đã tăng từ 1/4 lên 1/2 trong 20 năm qua ở hầu hết các nước phát triển, ngoại trừ Hoa Kỳ. Có nhiều lý do khiến bạn phải làm việc bán thời gian, bao gồm cả mong muốn được làm như vậy, bị chủ lao động cắt giảm giờ làm và không thể tìm được việc làm toàn thời gian.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm Theo nghiên cứu của Hielke (2004) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đi làm thêm bao gồm chu kì kinh doanh, tổ chức thị trường lao động và chính sách, các yếu tố cấu trúc khác 7 - Chu kì kinh doanh Chu kì kinh doanh ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ lệ việc làm bán thời gian trong ngắn hạn đến trung bình kì hạn.

Điều này đồng nghĩa với việc tỷ lệ làm việc bán thời gian có thể phản ứng khác với chu kì kinh doanh ảnh hưởng liên quan đến việc làm toàn thời gian Theo OECD, 1995, Delsen, 1998 xác định chu kì kinh doanh ảnh hưởng đến việc làm bán thời gian. Về mặt nhu cầu có thể có hai tác động chủ yếu là có một hiệu ứng thành phần và sự thay đổi trong các lĩnh vực - Tổ chức thị trường lao động và chính sách Trong khi chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng đến ngắn hạn và trung hạn sự thay đổi tỷ lệ việc làm bán thời gian thì các yếu tố thị trường lao động và chính sách lại ảnh hưởng dài hạn đến tỷ lệ bán thời gian Theo Smith và cộng sự (1998) nghiên cứu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng lên của công việc bán thời gian ở châu Âu cho thấy các quy định cụ thể về công việc bán thời gian có thể sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển việc làm bán thời gian qua ba cơ chế. Đầu tiên, một số quy định ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thời gian làm việc thông qua việc hạn chế sử dụng công việc làm thêm. Thứ hai, một số quy định ảnh hưởng gián tiếp đến việc làm bán thời gian thông qua các quy định về tiền lương và hệ thống bảo trợ xã hội, phúc lợi.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi công việc toàn thời gian thành công việc bán thời gian để có thể dung hoà giữa cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp Theo Bentolila và Dolado (1994) sự nghiêm ngặt của luật bảo vệ việc làm có thể gây ra hai tác động trái ngược nhau. Đầu tiên, nó có thể sử dụng công việc bán thời gian để phá vỡ luật làm việc cứng nhắc của công việc toàn thời gian. Thứ hai, luật bảo vệ việc làm ở một số quốc gia có thể gây ảnh hưởng trực tiếp một cách tiêu cực đến việc làm bán thời gian bằng cách hạn chế công việc bán thời gian. Theo Doudeijn (1998), việc khó khăn về tài chính gây lên tác động đáng kể về quyết định làm việc bán thời gian, vì công việc bán thời gian không mang lại thu nhập cao.

8 Ngược lại, lợi ích của việc nâng cao các tiêu chí về điều kiện làm việc và tăng cường kiểm soát thực hiện giúp giảm bớt những khó khăn về tài chính. - Các yếu tố cấu trúc khác: Sự gia tăng tỷ lệ phụ nữ làm việc bán thời gian tỉ lệ thuận với sự gia tăng tỷ lệ của công việc bán thời gian. Việc làm bán thời gian là con đường giúp phụ nữ gia nhập vào thị trường lao động ở những quốc gia có tỷ lệ tham gia làm việc bán thời gian thấp vào những năm 1960 và 1970. Tương tự, sự gia tăng tỷ lệ sinh và số thành viên trong gia đình cũng làm tăng nhu cầu làm việc bán thời gian thay vì toàn thời gian để có thể cân bằng giữa cuộc sống và công việc Tỷ lệ đi học của nhóm dân số từ 15 đến 24 tuổi có khả năng ảnh hưởng một cách tích cực đến tỷ lệ làm việc bán thời gian Từ phía nhu cầu lao động, sinh viên cung cấp lao động tương đối rẻ và linh hoạt.

Còn về phía cung lao động, sinh viên chủ yếu tìm kiếm công việc bán thời gian để trang trải chi phí học tập. Một số sinh viên có thể sẵn sàng làm công việc bán thời gian để tích luỹ được kinh nghiệm chuyên môn. Sự khác biệt về tiền lương và chi phí ngoài lương giữa công việc bán thời gian và toàn thời gian có thể làm cho công việc bán thời gian có lợi cho doanh nghiệp.4 Khái niệm về Grab Bike GrabBike là loại hình sử dụng xe gắn máy hay mô tô để đưa đón khách, chi phí phải trả cũng được hiển thị ngay sau khi khách đặt xe, giống với Grabcar, nhưng giá cước rẻ hơn nhiều. GrabBike phù hợp trên mọi địa hình, giá cả lại rẻ nên rất phù hợp cho người Việt Nam (Bitcoin Vietnam New, 2021).5 Khái niệm về sinh viên Sinh viên là những người đăng kí vào các trường hoặc vào các cơ sở giáo dục khác nhau.

Ở đấy họ được đòa tạo một cách bài bản về một ngành nghề để chuẩn bị co công việc sau này họ làm. Ngoài ra, còn dùng những thời gian bên ngoài lớp học để thực hiện các yêu cầu khác của giáo viên hướng dẫn để chuẩn bị cho lớp học hoặc để chứng minh cho 9 sự tiến bộ trong thời gian học. Họ được xã hội công nhận kết quả qua những bằng cấp trong quá trình học (HocLuat.2 Mô hình lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan 2.1 Mô hình lý thuyết có liên quan 2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Hệ thống nhu cầu của Maslow (1943) được sử dụng vào nghiên cứu cách thức mà con người thực sự tham gia vào động lực hành vi. Maslow đã sử dụng các thuật ngữ như : sinh lý, an toàn, thuộc về tình yêu, nhu cầu xã hội, lòng tự trọng hoặc tự thể hiện để mô tả được mô hình mà động lực hành vi của con người thường di chuyển.

Điều này đồng nghĩa với việc để cho động lực có thể phát sinh ở những giai đoạn tiếp theo thì mỗi giai đoạn phải được thoả mãn trong chính cá nhân của họ. Hệ thống phân cấp của Maslow đã được sửa đổi theo thời gian. Hệ thống phân cấp ban đầu nói rằng mức độ thấp hơn phải được thoả mãn và hoàn thành trước khi chuyển sang một mục tiêu cao hơn. Tuy nhiên, ngày nay các học giả thích nghĩ về các cấp độ này là liên tục chồng chéo lẫn nhau.

Điều này cũng có nghĩa là các cấp thấp hơn có thể được ưu tiên trở lại so với các cấp khác tại bất kì thời điểm nào. Hệ thống nhu cầu của Maslow thường được mô tả theo hình dạng kim tự tháp với những nhu cầu từ cơ bản nhất đến siêu việt. Tháp nhu cầu của Maslow được thể hiện qua 5 tầng tháp: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu được giao lưu tình cảm và trực thuộc, nhu cầu được quý trọng và kính mến, cuối cùng là nhu cầu về tự thể hiện bản thân 10 Hình 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Maslow (1943) - Nhu cầu sinh lý Nhu cầu sinh lý là một khái niệm nguồn để giải thích và nuôi dưỡng nền tảng của các động lực khác. Đây là yêu cầu vật lí chính cho sự sống còn của con người.

Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người. Nhu cầu sinh lý là những yêu cầu cơ bản trong cuộc sống của mỗi con người bao gồm: cân bằng nội môi, sức khoẻ, thực phẩm và nước, ngủ, quần áo, nơi cư trú. - Nhu cầu an toàn Khi nhu cầu sinh lý của một con người được thoả mãn thì nhu cầu an toàn của họ mới được ưu tiên và chi phối hành vi. Nhu cầu an toàn và an ninh là việc giữ cho chúng ta an toàn, tránh khỏi các tổn hại.

Cá nhân sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu an toàn của mình trước khi tìm kiếm bất cứ mức sống nào cao hơn. Tuy nhiên, nhu cầu an toàn không quan trọng bằng nhu cầu sinh lý đơn giản - Nhu cầu xã hội Nhu cầu xã hội được đáp ứng khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn đã được thoả mãn. Nhu cầu này phát triển mạnh mẽ trong thời thơ ấu và có khả năng vượt qua cả nhu cầu an toàn như đã được quan sát ở những đứa trẻ phải ở với cha mẹ bạo hành, ngược đãi. Nhu cầu xã hội bao gồm tình bạn, sự thân mật, tình gia đình.

Người có nhu cầu tình cảm 11 về cảm giác muốn thuộc về và được chấp nhận trong một nhóm xã hội nào đó dù lớn hay nhỏ. - Nhu cầu được tôn trọng Hầu hết các cá nhân đều có nhu cầu tự tôn và lòng tự trọng ổn định. Maslow đã chú trọng hai phiên bản về nhu cầu quý trọng bao gồm: phiên bản thấp hơn và phiên bản cao hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ