chương 1, tác giả đã đưa ra các vấn đề cơ bản của đề tài như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, hàm ý và chính sách của đề tài và cuối cùng là bố cục tổng quát của khóa luận. Chương này sẽ là cơ sở và tiền đề để phát triển và giúp nghiên cứu các chương tiếp theo, theo một trình tự hợp lý và cụ thể hơn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Khái niệm về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/6/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Cũng giống như các doanh nghiệp khác, một trong các mối quan tâm hàng đầu của NHTM chính là khả năng tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó. Cụ thể hơn, Rose P.S (2001) cho rằng khả năng sinh lời được coi là một chỉ số quan trọng thể hiện kết quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực để tạo ra lợi nhuận bằng cách bán các sản phẩm, dịch vụ của mình.
Căn cứ trên cơ sở lý luận về đường khả năng sản xuất (Production Possibilities Frontier – PPF), khả năng sinh lời được hiểu là khả năng chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra hay nói một cách khác là khả năng sinh lời thông qua việc tiết kiệm các chi phí đầu vào để làm gia tăng lợi nhuận từ đó góp phần làm gia tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình cung ứng các sản phẩm và dịch vụ nói chung, các sản phẩm và dịch vụ tài chính – ngân hàng nói riêng. Ngoài ra, KNSL của các NHTM còn được sử dụng để xem xét mức độ an toàn và lành mạnh của ngân hàng so với toàn bộ hệ thống ngân hàng trong quan hệ chặt chẽ với sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Nguyên nhân là do các NHTM được xem là các tổ chức trung gian tài chính với vai trò làm chất xúc tác, kết nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực tư của nền kinh tế (Rose 1999). Chính vì vậy, những biến động nhỏ của hệ thống ngân hàng đôi khi có thể gây ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Lợi nhuận là vấn đề được quan tâm hàng đầu, là mục tiêu kinh doanh chính của các NHTM. Tuy nhiên lợi nhuận chỉ là một con số tuyệt đối, nên nó không thể hiện đầy đủ sự thay đổi trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng, cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ tương quan với các chỉ tiêu như nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí… Hay nói các khác để đánh giá hiệu quả hoạt động của một NHTM, chúng ta có thể dựa vào các chỉ số thể hiện khả năng 7 sinh lời. Don Hofstrand (2009) định nghĩa khái niệm khả năng sinh lời là mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh. Nếu không có khả năng sinh lời, các hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong thời gian dài.
Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lời trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lời trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng. Bên cạnh đó, Ehow (2012) định nghĩa khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Như vậy, khả năng sinh lời được hiểu rõ ràng nhất là khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử các điều kiện hoạt động không đổi. Trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chỉ sử dụng hai chỉ số tài chính chung nhất (ROA và ROE) để phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng.
Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận kinh doanh của các ngân hàng Khi phân tích tình hình tài chính của ngân hàng, việc phân tích các chỉ số về khả năng sinh lợi là một việc rất quan trọng. Thông qua việc phân tích các chỉ số về khả năng sinh lời có thể đánh giá được hiệu quả của ngân hàng, phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư, ngân hàng có thể quản trị một cách hiệu quả các tài sản sinh lời và đánh giá nguồn tài trợ nào có chi phí thấp nhất. Các chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận bao gồm: 2.1 Lợi nhuận trên tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với chính tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.
Chỉ số này cho thấy khả năng của Hội đồng quản trị Ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã sử dụng ROA để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng như nghiên cứu của Sehrish Gul và cộng sự (2011) về các 8 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Indonesia giai đoạn 2005 – 2009 hay nghiên cứu của Dawood (2014) về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Pakistan giai đoạn 2009 – 2012.
Cách tính ROA như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 2.2 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thuần so với vốn tự có của một ngân hàng qua đó đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn trong NHTM. ROE cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, biểu thị khoản sinh lời/lợi tức trung bình của các nhà đầu tư nhận được từ vốn cổ phần tại ngân hàng. ROE đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ khoản đầu tư vào ngân hàng khi họ chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý.
Chỉ số ROE cho biết ngân hàng đang tận dụng nguồn vốn chủ sở hữu hiệu qủa như thế nào. Chỉ số này phải được giải thích thận trọng vì một tỷ lệ cao có thể chỉ ra cả hai là khả năng lợi nhuận cao cũng như sử dụng vốn thấp và một tỷ lệ thấp có thể có nghĩa là khả năng lợi nhuận thấp cũng như sử dụng vốn cao. ROE thấp còn cho thấy sự yếu kém hiệu quả trong việc sử dụng đồng vốn của các cổ đông, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh và thu hút vốn của các ngân hàng. ROE không phụ thuộc vào tài sản và cho phép ngân hàng so sánh hiệu suất của các dòng sản phẩm nội bộ với nhau.
Tỷ lệ sinh lợi hoạt động phản ánh hiệu quả việc kiểm soát chi phí và tối đa hoá các nguồn thu của ngân hàng. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu phản ánh chính sách đòn bẩy tài chính, khi tỷ số này giảm đồng nghĩa khả năng sinh lời sẽ giảm theo. Nghiên cứu của Sehrish Gul và cộng sự (2011) về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Pakistan giai đoạn 2005 – 2009 cũng đã sử dụng ROE để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Cách tính ROE như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 9 2.
Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 2.1 Các nghiên cứu nước ngoài Syafri (2012) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng tại Indonesia. Dữ liệu được sử dụng là lấy từ các ngân hàng thương mại được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia từ năm 2002 đến năm 2011. Khả năng sinh lời của ngân hàng được tính bằng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) như một yếu tố quyết định của ngân hàng. Kỹ thuật phân tích được sử dụng là mô hình hồi quy dữ liệu bảng.
Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các tỷ lệ vốn cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng, trong khi tỷ lệ lạm phát, quy mô ngân hàng và tỷ lệ chi phí trên thu nhập có tác động tiêu cực khả năng sinh lời của ngân hàng. Nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và khả năng sinh lời của ngân hàng. Bên cạnh đó, theo Madmud và các đồng nghiên cứu sinh (2016), mục tiêu của nghiên cứu của họ là xác định các biến số cụ thể của ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại của Bangladesh. Tổng số 15 ngân hàng thương mại đã được thực hiện và các báo cáo tài chính của họ đã phân tích từ 2003-2013.
Nghiên cứu đã sử dụng lợi tức trên tài sản làm biến phụ thuộc và các biến cụ thể của ngân hàng như tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ rủi ro (rủi ro), khả năng thanh khoản, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ chi phí hoạt động & quy mô ngân hàng như các biến độc lập. Bảng tương quan Prais-Winsten đã sửa lỗi tiêu chuẩn (PCSE) đã được sử dụng để tự động loại bỏ mọi vấn đề về tự tương quan & phương sai thay đổi đối với bảng điều khiển dữ liệu. Kết quả chỉ ra rằng quy mô, chi phí hoạt động, tỷ số truyền và vốn được coi là quan trọng các biến ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Bangladesh. Hai biến khác không phải là yếu tố quyết định quan trọng cho các ngân hàng thương mại Bangladesh.