CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài Tăng trưởng kinh tế Việt Nam gắn liền với sự sụt giảm mạnh về tài nguyên thiên nhiên và gia tăng ô nhiễm môi trường với số lượng khí thải và chất thải tại các khu công nghiệp tăng đến mức báo động (Nguyễn Gia Thọ, 2019). Hiện nay, người dân đang phải đối mặt với các vấn đề về chất thải xâm lấn, nhiều loại chất thải nhựa tồn tại hàng trăm năm không thể phân hủy, tác động xấu đến nguồn nước, đất đai và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của chính con người và nhiều loài động thực vật (Ao Thu Hoài và cộng sự, 2021). Chính vì vậy, tỷ lệ mắc bệnh ung thư, hiểm nghèo, đường hô hấp, đường ruột ngày càng tăng cao nguyên nhân là do xuất phát từ các nguồn thực phẩm, nước uống và không khí ô nhiễm (Bộ Y tế, 2016). Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động của con người là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây nên các vấn đề trên do các hoạt động sản xuất và tiêu dùng.
Vì thế, trong những năm gần đây, người dân quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về sức khỏe và bảo vệ môi trường sống, họ coi trọng các hành vi mua thân thiện với môi trường, hướng đến tiêu dùng bền vững (Hồ Mỹ Dung và cộng sự, 2019). Chính vì vậy, tiêu dùng xanh đang được xem là xu hướng tiêu dùng của thế kỷ, như một biện pháp “giải cứu trái đất” trước những chuyển biến xấu của môi trường trên toàn cầu (Hoàng Thị Bảo Thoa, 2016). Tại Việt Nam, trong “Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” chỉ ra hai nhiệm vụ liên quan đến tiêu dùng xanh là xanh hóa sản xuất và xanh hóa tiêu dùng. Như vậy, chuyển đổi tiêu dùng theo hướng xanh hóa và bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm, chính sách xuyên suốt của Đảng và nhà nước và là một nội dung căn bản của mục tiêu phát triển ở Việt Nam hiện nay.
Vừa qua, Báo Sài Gòn Giải Phóng phối hợp cùng Sở Công thương, Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op) đã phát động chiến dịch “Tiêu dùng xanh” lần thứ 13-2022 do UBND TP.HCM chủ trì nhằm khuyến khích người dân tiêu dùng thân thiện với môi trường, có lợi cho sức khỏe, khuyến khích 1 các doanh nghiệp hướng đến sản xuất và kinh doanh sản phẩm xanh. Điều này cho thấy rằng tiêu dùng xanh đang được xem là một xu hướng mới đang phát triển ở Việt Nam nói chung và tại TP. Mặc dù đã có những bước chuyển đổi tích cực về phong cách tiêu dùng, nhưng quá trình chuyển đổi từ nhận thức đến hành động của người dân còn phụ thuộc vào quá nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan. Người dân Việt Nam ý thức được công dụng của sản phẩm xanh và tỏ ra quan tâm đến môi trường nhưng vì lí do nào đó mà họ vẫn chưa có hoặc có những hạn chế trong việc lựa chọn sản phẩm xanh trong quá trình mua hàng, đây là ý định mua hàng khó hiểu (Huỳnh Thị Kim Loan, 2021).
Điều này cho thấy tồn tại một khoảng cách giữa ý định và nhận thức người dân khi chọn mua sản phẩm xanh, đó là yếu tố thúc đẩy và cản trở. Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy và cản trở ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.HCM là thật sự cần thiết vì qua đó các doanh nghiệp có thể dự đoán được hành vi mua thực tế của người dân nhằm phát triển kinh doanh và làm cơ sở cho các nghiên cứu trên một phạm vi rộng hơn. Từ những lý do trên, tác giả chọn chủ đề: “Các yếu tố thúc đẩy và cản trở ý định tiêu dùng xanh của người dân Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận văn cao học của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy và cản trở ý định tiêu dùng xanh của người dân Thành phố Hồ Chí Minh.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định các yếu tố thực sự thúc đẩy và cản trở ý định tiêu dùng xanh của người dân TP. - Đo lường và kiểm định mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.
2 - Đề xuất một số hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp nhằm tăng cường nhận thức và phát triển ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.3 Câu hỏi nghiên cứu - Những yếu tố thúc đẩy và cản trở nào ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.HCM? - Từng yếu tố thúc đẩy và cản trở này có mức độ tác động ra sao đối với ý định tiêu dùng xanh và ý định tiêu dùng xanh có hay không có sự khác biệt giữa các nhóm người dân TP.HCM? - Những hàm ý quản trị nào làm tăng nhận thức và phát triển ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.4 Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài kết hợp hai phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.1 Phương pháp nghiên cứu định tính Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm tập trung với 05 chuyên gia am hiểu về lĩnh vực tiêu dùng xanh nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung thang đo. Phương pháp này được thực hiện qua hai vòng là thảo luận các yếu tố của mô hình nghiên cứu và hoàn thiện các biến quan sát của từng yếu tố, sau đó tác giả sẽ dự thảo phiếu khảo sát nháp.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 1.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ Nghiên cứu định lượng sơ bộ nhằm bước đầu kiểm tra độ tin cậy của thang đo trong mô hình nghiên cứu và là cơ sở để hoàn thiện phiếu khảo sát phục vụ cho nghiên cứu định lượng chính thức. Dữ liệu trong giai đoạn này được điều tra thuận tiện từ 30 người dân đang sống trên địa bàn TP.HCM có ý định tiêu dùng xanh.2 Nghiên cứu định lượng chính thức Tiến hành khảo sát chính thức với bảng câu hỏi đã được hiệu chỉnh trong nghiên cứu sơ bộ, áp dụng thang đo Likert với 05 mức độ đánh giá. Dữ liệu trong nghiên cứu chính thức được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 với việc kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá độ tin cậy thích hợp của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA để gom nhóm và loại biến, sử dụng hàm hồi quy để đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố thúc đẩy và cản trở ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát - Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố thúc đẩy và cản trở ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.
- Đối tượng khảo sát: Người dân đang sinh sống tại TP.HCM có ý định tiêu dùng xanh 1.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về thời gian: + Dữ liệu thứ cấp thu thập chủ yếu từ năm 2019-2021. + Dữ liệu sơ cấp được khảo sát và xử lý từ tháng 03/2022 đến tháng 07/2022. - Phạm vi không gian: TP.6 Ý nghĩa của luận văn - Kết quả nghiên cứu chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố thúc đẩy và cản trở đến ý định tiêu dùng xanh của người dân TP.HCM, từ đó một số hàm ý quản trị được đề nghị nhằm tăng ý định tiêu dùng xanh của người dân thành phố. - Nghiên cứu này cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những tổ chức, cá nhân nào muốn nghiên cứu những yếu tố thúc đẩy và cản trở ý định tiêu dùng xanh.
4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về tiêu dùng xanh Từ những năm 1960, thuật ngữ tiêu dùng xanh đã xuất hiện tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Tiêu dùng xanh được hiểu dưới nhiều khái niệm khác nhau: Tiêu dùng có trách nhiệm xã hội, tiêu dùng có ý thức về mặt sinh thái, tiêu dùng có trách nhiệm đối với môi trường, tiêu dùng thân thiện với môi trường và tiêu dùng xanh. Các khái niệm này có khác nhau về mặt ngữ nghĩa nhưng có bản chất giống nhau là đều hướng tới bảo vệ môi trường. Ví dụ như theo Antil (1984), tiêu dùng có trách nhiệm xã hội là hành vi và hành động quyết định mua hàng của người tiêu dùng liên quan đến vấn đề tài nguyên và môi trường; nó không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng mà còn quan tâm đến các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường.
Hội thảo tiêu dùng xanh (Oslo, Na Uy 1994), cho rằng tiêu dùng xanh là cách thức sử dụng sản phẩm có hiệu quả, giảm thiểu chất độc hại và ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên và không ảnh hưởng đến nhu cầu thế hệ sau. Tức là giảm tối đa việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các chất độc hại cũng như việc phát sinh chất thải và chất ô nhiễm. Theo Vũ Anh Dũng và cộng sự (2012), định nghĩa tiêu dùng xanh là việc mua, sử dụng và tuyên truyền các sản phẩm thân thiện với môi trường mà không gây hại cho sức khỏe con người và không đe dọa các chức năng hay sự đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên. Tiêu dùng xanh xuất phát từ mong muốn bảo vệ các nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai và nâng cao chất lượng sống của con người.
Như vậy, tiêu dùng xanh là hành động qua đó việc tiêu dùng sản phẩm hướng đến mục đích là giảm thiểu tác động đến môi trường thông qua việc sử dụng ít nguyên, nhiên, vật liệu, giảm thiểu về bao gói, không chứa chất độc hại, tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, an toàn sức khỏe; có thể tái sinh, tái sử dụng và ít tác động tiêu cực đến môi trường. Cụ thể, tiêu dùng xanh là việc sử dụng thực phẩm hữu cơ thay 6 thực phẩm thông thường; túi hữu cơ thay túi nilon; ống hút tre thay ống hút nhựa; điện áp mái thay điện máy phát; áo sợi bông/tơ lụa tự nhiên thay áo sợi nilon; sử dụng xăng sinh học hoặc loại sản phẩm có hiệu suất tái chế (sử dụng lại) rất cao.2 Khái niệm về ý định và ý định tiêu dùng xanh 2.1 Khái niệm về ý định Ý định hành vi là hành động của con người được dẫn dắt bởi sự cân nhắc 03 yếu tố: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát (Ajzen, 2002). Các niềm tin này ảnh hưởng cùng chiều với ý định thực hiện hành vi.