Chương 1 đã giới thiệu nghiên cứu, tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu; Chương 2 sẽ nêu các cơ sở lí thuyết, các nghiên cứu ứng dụng liên quan từ đó tiến hành xác định khung phân tích cụ thể cho ý định tập thể dục thường xuyên trong thời kỳ mang thai của phụ nữ; Chương 3 sẽ mô tả phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập dữ liệu; Chương 4 sẽ phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ý định tập thể dục thường xuyên trong thời kỳ mang thai của phụ nữ thông qua nghiên cứu mẫu tại TP. HCM; Chương 5 sẽ thảo luận kết quả của nghiên cứu và trình bày các gợi ý chính sách từ kết quả nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ CHO Ý ĐỊNH TẬP THỂ DỤC THƯỜNG XUYÊN CỦA PHỤ NỮ MANG THAI Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết, tóm lược các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu. Trong phần tổng quan lý thuyết, tác giả trình bày 02 lý thuyết áp dụng cho mô hình nghiên cứu, bao gồm: Lý thuyết hành vi hoạch định, lý thuyết tự hiệu quả.
Trong phần tóm lược nghiên cứu trước, tác giả tóm lược 06 nghiên cứu trước. Trong phần đề xuất mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc là ý định thực hiện hành vi tập thể dục thường xuyên của phụ nữ mang thai.1 Khái niệm trong cơ sở lý thuyết Ý định: Theo Ajzen (1991, tr.181), ý định được giả định là “bao gồm các yếu tố động lực có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Như một quy tắc chung, mỗi cá nhân có ý định càng mạnh để tham gia vào một hành vi, thì cá nhân đó càng có nhiều khả năng sẽ thực hiện thành công hành vi đó. Tuy nhiên, một ý định hành vi có thể thấy biểu hiện trong hành vi chỉ khi các hành vi đó là dưới sự kiểm soát của ý chí, tức là, nếu người đó có thể quyết định theo ý muốn sẽ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi.1 Thuyết hành vi hoạch định Thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991) là sự phát triển và cải tiến của Thuyết hành động hợp lý.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen và Fishben, 1980; Canry và Seibold, 1984; Sheppard, Hartwick, và Warshaw, 1988; Ajzen, 1991). Niềm tin về lợi ích của hành vi Thái độ hướng tới hành vi Đánh giá về kết quả thực hiện Ý định hành vi Hành vi Niềm tin theo chuẩn Chuẩn chủ quan Động cơ tuân thủ Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975, trích trong Yoo, 1996, tr.1 Khung lý thuyết hành đông hợp lý (TRA) Theo TRA, có ba khía cạnh: ý định hành vi, thái độ hướng tới hành vi và chuẩn chủ quan.
Ý định của một cá nhân là một chức năng của hai yếu tố quyết định cơ bản: một cá nhân trong trạng thái tự nhiên (thái độ hướng tới hành vi) và phản ánh ảnh hưởng từ xã hội (chuẩn chủ quan). Thái độ hướng tới hành vi được coi là một chức năng của các niềm tin nổi bật về các thuộc tính liên quan và hệ quả nhận thức thực hiện hành vi và đánh giá của cá nhân trong số các thuộc tính và các hệ quả. Chuẩn chủ quan bao gồm nhận thức của một cá nhân về những kỳ vọng của các chỉ dẫn cụ thể của các cá nhân hoặc các nhóm, những người quan trọng với anh ta/ cô ta, nghĩ rằng anh ta/cô ta nên làm, và động lực của anh ta/cô ta tuân thủ các chỉ dẫn (Ajzen và Fishbein, 1980; Fishbein, 1967c, 1980; Fishbein và Ajzen, 1975). Ajzen (1988) giải thích rõ ràng sự phân biệt giữa niềm tin và niềm tin nổi bật.
Một người có nhiều niềm tin khác nhau về một loạt các đối tượng, các hành động, và các sự kiện. Những niềm tin có thể được hình thành như là kết quả của sự quan sát trực tiếp, tự tạo ra bằng cách của các quá trình suy luận, hoặc được hình thành một cách gián tiếp bằng cách chấp nhận thông tin từ các nguồn bên ngoài như bạn bè, truyền hình, báo, sách,… Do đó, những người có thể giữ nhiều niềm tin về bất kỳ đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tượng nào đó, nhưng anh ta/cô ta có thể truy cập chỉ có một số lượng tương đối nhỏ, có lẽ tám hoặc chín, tại bất kỳ thời điểm nào. Niềm tin như vậy được gọi là niềm tin nổi bật. Chúng là những yếu tố quyết định ngay lập tức thái độ của một người.
Lý thuyết hành động hợp lý được gọi như vậy bởi vì nó đã được xác định rằng con người thường xem xét các tác động của các hành động của họ trước khi họ quyết định thực hiện hay không thực hiện một hành vi nhất định; nói cách khác, hành động thường được lý giải trước. Ajzen và Fishbein (1972) lưu ý một số giả định quan trọng đối với TRA: (a) ý định hành vi là tiền đề trực tiếp của hành vi công khai, (b) ý định hành vi là rất cụ thể - cụ thể là, ý định của một cá nhân để thực hiện một hành động được đưa ra trong một tình huống cụ thể , (c) các điều kiện theo đó ý định hành vi được đo lường phải được lợi ích tối đa cho một mối tương quan cao giữa ý định hành vi và hành vi, (d) khoảng thời gian giữa các đo lường về ý định và quan sát hành vi phải ngắn để có được mối tương quan cao, (e) hệ quả không lường trước được hành vi và/hoặc mong đợi bản quy phạm có thể làm giảm các mối tương quan giữa hành vi và ý định hành vi, và (f) các trọng số beta của các thành phần trong mô hình phải được xác định bằng phân tích hồi quy. Sheppard, Hartwick, và Warshaw (1988) đã đề xuất một số hạn chế trong TRA. Khi hành vi của một cá nhân không phải là dưới sự kiểm soát của ý chí, TRA có thể không chính xác dự đoán hành vi của cá nhân đó.
Nói cách khác, nhiều trở ngại tiềm năng mà có thể chặn một ý chí của chủ thể hành động có thể xuất hiện, chẳng hạn như thời gian, nguồn lực và sự sẵn có của sản phẩm. Một hạn chế khác xảy ra khi tình huống liên quan đến một vấn đề lựa chọn. TRA tập trung vào các yếu tố quyết định và thực hiện một hành vi đơn lẻ; tuy nhiên, người tiêu dùng thường xuyên phải đối mặt với một sự lựa chọn giữa các cửa hàng, sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu mã, kích cỡ và màu sắc. TRA không xem xét khả năng lựa chọn trong số các hành vi thay thế, đó là một trong những hạn chế.
Một hạn chế khác nữa xảy ra trong những tình huống mà trong đó ý định của chủ thể được đánh giá, nhưng chủ thể lại không có tất cả các thông tin cần thiết để hình thành một ý định hoàn toàn tự tin. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Theo Ajzen (1991), sự ra đời của thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1980; Fishbein và Ajzen, 1975), trong một nỗ lực để đối phó với các tình huống mà các cá nhân có thể kiểm soát hoàn toàn thiếu ý trí trên hành vi. Nhân tố thứ ba mà Ajzen (1991) cho là có ảnh hưởng đến ý định của cá nhân là yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC). Thuyết TPB được mô hình hóa ở Hình 2.
Thái độ hướng tới hành vi Chuẩn chủ quan Ý định Hành vi Kiểm soát hành vi cảm nhận Nguồn: Ajzen, The theory of planned behavior, 1991, tr.2 Khung lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) Kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC): được định nghĩa là, với sự hiện diện hay vắng mặt của các nguồn lực và cơ hội cần thiết, nhận thức của cá nhân dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện các hành vi quan tâm (Ajzen, 1991). Kiểm soát hành vi cảm nhận được giả định là phản ánh trên kinh nghiệm quá khứ và một phần từ các thông tin cũ thông qua trao đổi thông tin của gia đình, bạn bè và các yếu tố có thể kiểm soát mức độ khó hay dễ của việc thực hiện hành vi quan tâm (Ajzen, 1991). Theo Ajzen (1991), kiểm soát hành vi cảm nhận đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết hành vi hoạch định. Trong thực tế, lý thuyết hành vi hoạch định khác với lý thuyết hành động hợp lý với việc bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận.
Trước khi xem xét vị trí của kiểm soát hành vi cảm nhận trong việc dự đoán về các ý định và hành động, nó là khái niệm để so sánh với việc xây dựng các khái niệm kiểm soát khác. Tuy nhiên, quan điểm hiện tại của kiểm soát hành vi cảm nhận là tương thích với hầu hết các khái niệm về nhận thức tự hiệu quả của Bandura (1977, 1982), đó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 “liên quan với sự phán đoán hợp lý như thế nào của một cá nhân có thể thực hiện tiến trình của hành động cần thiết để đối phó với những tình huống tương lai” (Bandura, 1982). Nhiều kiến thức về vai trò của kiểm soát hành vi cảm nhận xuất phát từ các chương trình nghiên cứu có hệ thống của Bandura và các cộng sự của mình (ví dụ, Bandura, Adams, và Beyer, 1977; Bandura, Adams, Hardy, và Howells, 1980). Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành vi của con người bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự tự tin vào khả năng của họ để thực hiện hành vi (ví dụ, bằng cách kiểm soát hành vi cảm nhận).
Niềm tin tự hiệu quả có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các hoạt động, sự chuẩn bị cho hoạt động, nỗ lực trải qua trong quá trình thực hiện, cũng như cách suy nghĩ và phản ứng cảm xúc (Bandura, 1982, 1991).