Các Yếu Tố Tác Động Đến Ý Định Tập Thể Dục Thường Xuyên Ở Phụ Nữ Mang Thai Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ phân tích ueh các yếu tố tác động đến ý định tập thể dục thường xuyên ở phụ nữ mang thai tại thành phố hồ chí, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

124
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Bố cục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ CHO Ý ĐỊNH TẬP THỂ DỤC THƯỜNG XUYÊN CỦA PHỤ NỮ MANG THAI TẠI TP.

2.1. Khái niệm trong cơ sở lý thuyết

2.1.1. Thuyết hành vi hoạch định

2.1.2. Lý thuyết tự hiệu quả

2.1.3. Các nghiên cứu trước có liên quan

2.1.3.1. Nghiên cứu của Supavititpatana và cộng sự (2012) về ý định hoạt động thể chất của các bà mẹ mang thai tại Thái Lan
2.1.3.2. Nghiên cứu của Hyondo Chung (2012) về kiểm tra ý định và hành vi tập thể dục của phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu với tình trạng kinh tế-xã hội thấp tại North Carolina, Hoa Kỳ
2.1.3.3. Nghiên cứu của Steele (2002) về áp dụng các mô hình xã hội học vào hành vi tập thể dục trong thai kỳ tại Hoa Kỳ
2.1.3.4. Nghiên cứu của Bland và cộng sự (2013) về đo lường tính hiệu quả của việc tập thể dục đối với phụ nữ mang thai bằng thang đo tự hiệu quả tập thể dục trong thai kỳ (P-ESES) tại khu vực Đông Nam Hoa Kỳ

2.2. Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định thường xuyên tập thể dục của phụ nữ mang thai tại TP.

2.2.1. Khái niệm về tập thể dục ở phụ nữ mang thai

2.2.2. Lợi ích của việc tập thể dục ở phụ nữ mang thai

2.2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.3. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.2. Kết quả nghiên cứu định tính

3.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.3.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo

3.3.2. Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá

3.3.3. Phân tích tương quan và hồi quy bội

3.3.4. Phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA)

3.4. Nghiên cứu định lượng

3.4.1. Phương pháp

3.4.1.1. Các giai đoạn thiết kế bảng câu hỏi
3.4.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.4.2. Thiết kế mẫu

3.5. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

4.1. Mô tả mẫu khảo sát

4.1.1. Thông tin chung

4.1.2. Lần mang thai

4.1.3. Số phôi thai

4.2. Thông tin cá nhân

4.2.1. Độ tuổi của bà mẹ

4.2.2. Trình độ học vấn

4.2.3. Thu nhập hàng tháng của hộ gia đình (VND)

4.3. Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

4.4. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.4.1. Kết quả phân tích EFA các yếu tố tác động đến ý định tập thể dục thường xuyên trong thời kỳ mang thai

4.4.2. Kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc ý định tập thể dục thường xuyên trong thời kỳ mang thai

4.5. Phân tích hồi quy đa biến

4.5.1. Ma trận tương quan giữa các biến

4.5.2. Xây dựng mô hình hồi quy

4.5.2.1. Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình
4.5.2.2. Xác định tầm quan trọng của các biến trong mô hình
4.5.2.3. Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính

4.6. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu liên quan yếu tố nhân khẩu học về ý định tập thể dục thường xuyên ở phụ nữ mang thai tại TP.

4.6.1. Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi

4.6.2. Kiểm định sự khác biệt về trình độ học vấn

4.6.3. Kiểm định sự khác biệt về nghề nghiệp

4.6.4. Kiểm định sự khác biệt về thu nhập hàng tháng của hộ gia đình

4.7. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH VỀ TẬP THỂ DỤC TRONG THAI KỲ

5.1. Tóm tắt nghiên cứu

5.2. Kết luận từ nghiên cứu và so sánh kết quả với các nghiên cứu trước

5.2.1. Kiểm soát hành vi cảm nhận

5.2.2. Chuẩn chủ quan

5.2.3. Tập thể dục tự hiệu quả

5.3. Gợi ý chính sách

5.4. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Nội dung thảo luận nhóm

Phụ lục 2. Bảng câu hỏi nghiên cứu

Phụ lục 3. Mô tả mẫu khảo sát

Phụ lục 4. Kết quả đánh giá các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

Phụ lục 5. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phụ lục 6. Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Phụ lục 7. Kết quả kiểm định ANOVA

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng đến ý định tập thể dục ở phụ nữ mang thai

Tập thể dục là một phần quan trọng trong việc duy trì sức khỏe, đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tập thể dục không chỉ giúp cải thiện sức khỏe thể chất mà còn có tác động tích cực đến tâm lý của thai phụ. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ mang thai tại TP.HCM vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc tập thể dục. Các yếu tố như môi trường sống, thói quen cá nhân và sự hỗ trợ từ gia đình có thể ảnh hưởng đến ý định tập thể dục của họ.

1.1. Lợi ích của việc tập thể dục đối với phụ nữ mang thai

Tập thể dục giúp cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần cho phụ nữ mang thai. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc tập thể dục thường xuyên có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh lý như tiểu đường, huyết áp cao và trầm cảm. Ngoài ra, tập thể dục còn giúp thai phụ chuẩn bị tốt hơn cho quá trình sinh nở.

1.2. Tình trạng tập thể dục của phụ nữ mang thai tại TP.HCM

Mặc dù có nhiều lợi ích, nhưng tỷ lệ phụ nữ mang thai tham gia tập thể dục tại TP.HCM vẫn còn thấp. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng chỉ một phần nhỏ phụ nữ mang thai thực hiện đủ lượng hoạt động thể chất được khuyến nghị. Điều này có thể do thiếu thông tin, sự hỗ trợ từ gia đình và môi trường không thuận lợi.

II. Các thách thức trong việc duy trì thói quen tập thể dục ở phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai thường gặp nhiều thách thức trong việc duy trì thói quen tập thể dục. Những thay đổi về thể chất và tâm lý trong thai kỳ có thể làm giảm động lực tập luyện. Ngoài ra, áp lực từ công việc và gia đình cũng có thể ảnh hưởng đến ý định tập thể dục của họ.

2.1. Thay đổi tâm lý và thể chất trong thai kỳ

Trong thời kỳ mang thai, phụ nữ thường trải qua nhiều thay đổi về tâm lý và thể chất. Những thay đổi này có thể dẫn đến cảm giác mệt mỏi, lo âu và giảm động lực tập luyện. Việc hiểu rõ những thay đổi này có thể giúp phụ nữ mang thai tìm ra cách để duy trì thói quen tập thể dục.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường sống đến ý định tập thể dục

Môi trường sống có thể ảnh hưởng lớn đến ý định tập thể dục của phụ nữ mang thai. Những khu vực thiếu cơ sở hạ tầng cho việc tập luyện, như công viên hoặc phòng tập thể dục, có thể làm giảm khả năng tham gia hoạt động thể chất. Hơn nữa, sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích phụ nữ mang thai tập thể dục.

III. Phương pháp khuyến khích phụ nữ mang thai tập thể dục an toàn

Để khuyến khích phụ nữ mang thai tham gia tập thể dục, cần có các phương pháp phù hợp và an toàn. Việc cung cấp thông tin đầy đủ về lợi ích của tập thể dục và các bài tập phù hợp là rất quan trọng. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng cũng có thể tạo động lực cho phụ nữ mang thai.

3.1. Các bài tập thể dục phù hợp cho phụ nữ mang thai

Các bài tập như đi bộ, bơi lội và yoga là những lựa chọn an toàn cho phụ nữ mang thai. Những bài tập này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn giúp giảm căng thẳng và lo âu. Việc tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu bất kỳ chương trình tập luyện nào là rất quan trọng.

3.2. Tạo môi trường hỗ trợ cho phụ nữ mang thai

Cộng đồng và gia đình có thể đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích phụ nữ mang thai tập thể dục. Việc tổ chức các lớp học thể dục dành riêng cho phụ nữ mang thai hoặc tạo ra các nhóm tập luyện có thể giúp tạo động lực và sự hỗ trợ cho họ.

IV. Kết quả nghiên cứu về ý định tập thể dục ở phụ nữ mang thai

Nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều yếu tố tác động đến ý định tập thể dục của phụ nữ mang thai tại TP.HCM. Các yếu tố như nhận thức về lợi ích sức khỏe, sự hỗ trợ từ gia đình và môi trường sống đều có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tham gia hoạt động thể chất của họ.

4.1. Phân tích các yếu tố tác động đến ý định tập thể dục

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức về lợi ích của việc tập thể dục có mối liên hệ chặt chẽ với ý định tham gia hoạt động thể chất. Phụ nữ mang thai có nhận thức cao về lợi ích sức khỏe thường có xu hướng tập thể dục nhiều hơn.

4.2. Kết quả từ các cuộc khảo sát và phỏng vấn

Các cuộc khảo sát và phỏng vấn cho thấy rằng nhiều phụ nữ mang thai cảm thấy thiếu thông tin và hỗ trợ trong việc tập thể dục. Điều này cho thấy cần có các chương trình giáo dục và hỗ trợ để khuyến khích họ tham gia hoạt động thể chất.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tập thể dục ở phụ nữ mang thai là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao nhận thức về lợi ích của việc tập thể dục mà còn cung cấp cơ sở cho các chính sách hỗ trợ phụ nữ mang thai trong việc duy trì sức khỏe.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác định được nhiều yếu tố tác động đến ý định tập thể dục của phụ nữ mang thai, bao gồm nhận thức về lợi ích sức khỏe, sự hỗ trợ từ gia đình và môi trường sống. Những yếu tố này cần được xem xét trong các chương trình can thiệp.

5.2. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tập thể dục của phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu này có thể giúp phát triển các chương trình hỗ trợ hiệu quả hơn cho phụ nữ mang thai trong việc duy trì sức khỏe.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố tác động đến ý định tập thể dục thường xuyên ở phụ nữ mang thai tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã giới thiệu nghiên cứu, tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu; Chương 2 sẽ nêu các cơ sở lí thuyết, các nghiên cứu ứng dụng liên quan từ đó tiến hành xác định khung phân tích cụ thể cho ý định tập thể dục thường xuyên trong thời kỳ mang thai của phụ nữ; Chương 3 sẽ mô tả phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập dữ liệu; Chương 4 sẽ phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ý định tập thể dục thường xuyên trong thời kỳ mang thai của phụ nữ thông qua nghiên cứu mẫu tại TP. HCM; Chương 5 sẽ thảo luận kết quả của nghiên cứu và trình bày các gợi ý chính sách từ kết quả nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ CHO Ý ĐỊNH TẬP THỂ DỤC THƯỜNG XUYÊN CỦA PHỤ NỮ MANG THAI Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết, tóm lược các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu. Trong phần tổng quan lý thuyết, tác giả trình bày 02 lý thuyết áp dụng cho mô hình nghiên cứu, bao gồm: Lý thuyết hành vi hoạch định, lý thuyết tự hiệu quả.

Trong phần tóm lược nghiên cứu trước, tác giả tóm lược 06 nghiên cứu trước. Trong phần đề xuất mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc là ý định thực hiện hành vi tập thể dục thường xuyên của phụ nữ mang thai.1 Khái niệm trong cơ sở lý thuyết Ý định: Theo Ajzen (1991, tr.181), ý định được giả định là “bao gồm các yếu tố động lực có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Như một quy tắc chung, mỗi cá nhân có ý định càng mạnh để tham gia vào một hành vi, thì cá nhân đó càng có nhiều khả năng sẽ thực hiện thành công hành vi đó. Tuy nhiên, một ý định hành vi có thể thấy biểu hiện trong hành vi chỉ khi các hành vi đó là dưới sự kiểm soát của ý chí, tức là, nếu người đó có thể quyết định theo ý muốn sẽ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi.1 Thuyết hành vi hoạch định Thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991) là sự phát triển và cải tiến của Thuyết hành động hợp lý.

Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen và Fishben, 1980; Canry và Seibold, 1984; Sheppard, Hartwick, và Warshaw, 1988; Ajzen, 1991). Niềm tin về lợi ích của hành vi Thái độ hướng tới hành vi Đánh giá về kết quả thực hiện Ý định hành vi Hành vi Niềm tin theo chuẩn Chuẩn chủ quan Động cơ tuân thủ Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975, trích trong Yoo, 1996, tr.1 Khung lý thuyết hành đông hợp lý (TRA) Theo TRA, có ba khía cạnh: ý định hành vi, thái độ hướng tới hành vi và chuẩn chủ quan.

Ý định của một cá nhân là một chức năng của hai yếu tố quyết định cơ bản: một cá nhân trong trạng thái tự nhiên (thái độ hướng tới hành vi) và phản ánh ảnh hưởng từ xã hội (chuẩn chủ quan). Thái độ hướng tới hành vi được coi là một chức năng của các niềm tin nổi bật về các thuộc tính liên quan và hệ quả nhận thức thực hiện hành vi và đánh giá của cá nhân trong số các thuộc tính và các hệ quả. Chuẩn chủ quan bao gồm nhận thức của một cá nhân về những kỳ vọng của các chỉ dẫn cụ thể của các cá nhân hoặc các nhóm, những người quan trọng với anh ta/ cô ta, nghĩ rằng anh ta/cô ta nên làm, và động lực của anh ta/cô ta tuân thủ các chỉ dẫn (Ajzen và Fishbein, 1980; Fishbein, 1967c, 1980; Fishbein và Ajzen, 1975). Ajzen (1988) giải thích rõ ràng sự phân biệt giữa niềm tin và niềm tin nổi bật.

Một người có nhiều niềm tin khác nhau về một loạt các đối tượng, các hành động, và các sự kiện. Những niềm tin có thể được hình thành như là kết quả của sự quan sát trực tiếp, tự tạo ra bằng cách của các quá trình suy luận, hoặc được hình thành một cách gián tiếp bằng cách chấp nhận thông tin từ các nguồn bên ngoài như bạn bè, truyền hình, báo, sách,… Do đó, những người có thể giữ nhiều niềm tin về bất kỳ đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tượng nào đó, nhưng anh ta/cô ta có thể truy cập chỉ có một số lượng tương đối nhỏ, có lẽ tám hoặc chín, tại bất kỳ thời điểm nào. Niềm tin như vậy được gọi là niềm tin nổi bật. Chúng là những yếu tố quyết định ngay lập tức thái độ của một người.

Lý thuyết hành động hợp lý được gọi như vậy bởi vì nó đã được xác định rằng con người thường xem xét các tác động của các hành động của họ trước khi họ quyết định thực hiện hay không thực hiện một hành vi nhất định; nói cách khác, hành động thường được lý giải trước. Ajzen và Fishbein (1972) lưu ý một số giả định quan trọng đối với TRA: (a) ý định hành vi là tiền đề trực tiếp của hành vi công khai, (b) ý định hành vi là rất cụ thể - cụ thể là, ý định của một cá nhân để thực hiện một hành động được đưa ra trong một tình huống cụ thể , (c) các điều kiện theo đó ý định hành vi được đo lường phải được lợi ích tối đa cho một mối tương quan cao giữa ý định hành vi và hành vi, (d) khoảng thời gian giữa các đo lường về ý định và quan sát hành vi phải ngắn để có được mối tương quan cao, (e) hệ quả không lường trước được hành vi và/hoặc mong đợi bản quy phạm có thể làm giảm các mối tương quan giữa hành vi và ý định hành vi, và (f) các trọng số beta của các thành phần trong mô hình phải được xác định bằng phân tích hồi quy. Sheppard, Hartwick, và Warshaw (1988) đã đề xuất một số hạn chế trong TRA. Khi hành vi của một cá nhân không phải là dưới sự kiểm soát của ý chí, TRA có thể không chính xác dự đoán hành vi của cá nhân đó.

Nói cách khác, nhiều trở ngại tiềm năng mà có thể chặn một ý chí của chủ thể hành động có thể xuất hiện, chẳng hạn như thời gian, nguồn lực và sự sẵn có của sản phẩm. Một hạn chế khác xảy ra khi tình huống liên quan đến một vấn đề lựa chọn. TRA tập trung vào các yếu tố quyết định và thực hiện một hành vi đơn lẻ; tuy nhiên, người tiêu dùng thường xuyên phải đối mặt với một sự lựa chọn giữa các cửa hàng, sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu mã, kích cỡ và màu sắc. TRA không xem xét khả năng lựa chọn trong số các hành vi thay thế, đó là một trong những hạn chế.

Một hạn chế khác nữa xảy ra trong những tình huống mà trong đó ý định của chủ thể được đánh giá, nhưng chủ thể lại không có tất cả các thông tin cần thiết để hình thành một ý định hoàn toàn tự tin. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Theo Ajzen (1991), sự ra đời của thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1980; Fishbein và Ajzen, 1975), trong một nỗ lực để đối phó với các tình huống mà các cá nhân có thể kiểm soát hoàn toàn thiếu ý trí trên hành vi. Nhân tố thứ ba mà Ajzen (1991) cho là có ảnh hưởng đến ý định của cá nhân là yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC). Thuyết TPB được mô hình hóa ở Hình 2.

Thái độ hướng tới hành vi Chuẩn chủ quan Ý định Hành vi Kiểm soát hành vi cảm nhận Nguồn: Ajzen, The theory of planned behavior, 1991, tr.2 Khung lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) Kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC): được định nghĩa là, với sự hiện diện hay vắng mặt của các nguồn lực và cơ hội cần thiết, nhận thức của cá nhân dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện các hành vi quan tâm (Ajzen, 1991). Kiểm soát hành vi cảm nhận được giả định là phản ánh trên kinh nghiệm quá khứ và một phần từ các thông tin cũ thông qua trao đổi thông tin của gia đình, bạn bè và các yếu tố có thể kiểm soát mức độ khó hay dễ của việc thực hiện hành vi quan tâm (Ajzen, 1991). Theo Ajzen (1991), kiểm soát hành vi cảm nhận đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết hành vi hoạch định. Trong thực tế, lý thuyết hành vi hoạch định khác với lý thuyết hành động hợp lý với việc bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận.

Trước khi xem xét vị trí của kiểm soát hành vi cảm nhận trong việc dự đoán về các ý định và hành động, nó là khái niệm để so sánh với việc xây dựng các khái niệm kiểm soát khác. Tuy nhiên, quan điểm hiện tại của kiểm soát hành vi cảm nhận là tương thích với hầu hết các khái niệm về nhận thức tự hiệu quả của Bandura (1977, 1982), đó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 “liên quan với sự phán đoán hợp lý như thế nào của một cá nhân có thể thực hiện tiến trình của hành động cần thiết để đối phó với những tình huống tương lai” (Bandura, 1982). Nhiều kiến thức về vai trò của kiểm soát hành vi cảm nhận xuất phát từ các chương trình nghiên cứu có hệ thống của Bandura và các cộng sự của mình (ví dụ, Bandura, Adams, và Beyer, 1977; Bandura, Adams, Hardy, và Howells, 1980). Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành vi của con người bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự tự tin vào khả năng của họ để thực hiện hành vi (ví dụ, bằng cách kiểm soát hành vi cảm nhận).

Niềm tin tự hiệu quả có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các hoạt động, sự chuẩn bị cho hoạt động, nỗ lực trải qua trong quá trình thực hiện, cũng như cách suy nghĩ và phản ứng cảm xúc (Bandura, 1982, 1991).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ