Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò trụ cột trong nền kinh tế Việt Nam với mức đóng góp 602,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước vào năm 2013 và sản lượng lúa gạo xuất khẩu đạt 6,61 triệu tấn. Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng vai trò là vựa lúa trọng điểm của cả nước. Tuy nhiên, áp lực thâm canh tăng vụ trên diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng thu hẹp đã dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hóa học ở mức báo động. Khối lượng thuốc BVTV nhập khẩu đã tăng vọt từ 36 nghìn tấn giai đoạn 2001-2011 lên tới 103.500 tấn vào năm 2012 với trị giá xấp xỉ 700 triệu USD, khiến lượng hoạt chất hóa học đạt từ 1,24 đến 2,54 kg/ha. Hậu quả là 8,53% mẫu nông sản kiểm tra vượt ngưỡng tồn dư tối đa cho phép và khoảng 35% nông dân tại ĐBSCL xét nghiệm có tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong máu theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới.

Trước thực trạng ô nhiễm môi trường đất, nước và suy giảm chất lượng nông sản, giải pháp sử dụng thuốc BVTV sinh học, đặc biệt là nhóm chiết xuất từ thực vật, được đánh giá là hướng đi tất yếu. Dù sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội về độ an toàn và khả năng phân hủy sinh học, thuốc BVTV sinh học mới chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 5% trên toàn quốc và khoảng 8,8% tại khu vực ĐBSCL. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề cốt lõi: Xác định các yếu tố cấu thành và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định mua thuốc BVTV sinh học của nông dân trồng lúa tại ĐBSCL. Phạm vi không gian nghiên cứu bao phủ 13 tỉnh thành ĐBSCL trong khung thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2014. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp xanh bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) của Ajzen và Fishbein (1975) cùng Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1985, 1991). Thuyết TPB khẳng định ý định hành vi của một cá nhân chịu sự chi phối trực tiếp bởi ba thành phần: Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Để phản ánh đầy đủ bối cảnh tiêu dùng nông nghiệp xanh tại ĐBSCL, tác giả mở rộng mô hình bằng việc tích hợp thêm hai biến độc lập đặc thù: Mối quan tâm đến môi trường theo khung nghiên cứu của Sidique và cộng sự (2010) và Giá trị của giá cả theo nghiên cứu của Venkatesh và cộng sự (2012).

Hệ thống khái niệm nghiên cứu bao gồm: (1) Ý định mua thuốc BVTV sinh học - biểu thị mức độ sẵn sàng và nỗ lực có chủ đích của nông dân trong việc tìm kiếm, chi trả cho sản phẩm; (2) Thuốc BVTV sinh học chiết xuất thực vật - nhóm chế phẩm bảo vệ mùa màng có nguồn gốc hoạt chất tự nhiên từ cây cỏ như xoan Ấn Độ, cây neem, cúc vạn thọ; (3) Chuẩn chủ quan - nhận thức về áp lực xã hội từ gia đình, bạn bè, hàng xóm và khuyến nông; (4) Nhận thức kiểm soát hành vi - đánh giá về mức độ thuận tiện, tính sẵn có và sự dễ dàng khi sử dụng thuốc; (5) Mối quan tâm môi trường - mức độ lo ngại về ô nhiễm sinh thái; (6) Giá trị của giá cả - sự tương quan giữa lợi ích phòng trừ dịch hại nhận được so với chi phí tiền mặt bỏ ra.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa hai giai đoạn: nghiên cứu định tính khám phá và nghiên cứu định lượng thực nghiệm:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành thông qua kỹ thuật thảo luận tay đôi với 5 chuyên gia đầu ngành tại Viện Lúa ĐBSCL, cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH TM Tân Thành, Giám đốc Nhà máy thuốc BVTV Delta và đại diện Câu lạc bộ nông dân nhằm hiệu chỉnh 25 biến quan sát ban đầu. Tiếp theo, tác giả phỏng vấn thử nghiệm 10 nông dân tại Cần Thơ để hoàn thiện bảng hỏi khảo sát chính thức theo thang đo khoảng Likert 5 điểm.
  • Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp 300 nông dân tại 13 tỉnh thành ĐBSCL theo kỹ thuật chọn mẫu định mức kết hợp thuận tiện. Mẫu được phân bổ thành 2 nhóm: nhóm 7 tỉnh diện tích lúa lớn (Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Hậu Giang) với trên 30 mẫu mỗi tỉnh và nhóm 6 tỉnh diện tích nhỏ hơn (Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cà Mau) với 15 mẫu mỗi tỉnh. Sau quá trình sàng lọc, thu được 206 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 68,67%). Quy mô mẫu này vượt xa tiêu chuẩn tối thiểu là 125 mẫu cho phân tích EFA với 25 biến quan sát (tỷ lệ 5:1 theo Hair và cộng sự, 2006) và quy tắc n > 50 + 8m cho hồi quy đa biến (với m = 5 biến độc lập).
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0. Các công cụ kiểm định gồm: Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (loại bỏ biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,30 và giữ lại các thang đo có hệ số Cronbach's Alpha từ 0,60 trở lên), Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax để kiểm tra giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, Phân tích tương quan Pearson và Hồi quy tuyến tính bội để kiểm định giả thuyết nghiên cứu, cùng kiểm định Independent Samples T-test và One-Way ANOVA để đánh giá sự khác biệt của các biến nhân khẩu học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm trên 206 mẫu nông dân tại 13 tỉnh ĐBSCL đã mang lại những kết quả đo lường cụ thể sau:

  • Thứ nhất, phương trình hồi quy tuyến tính bội đạt độ phù hợp cao với mức ý nghĩa thống kê chặt chẽ (p < 0,05). Toàn bộ 5 giả thuyết từ H1 đến H5 đều được chấp nhận, khẳng định cả 5 yếu tố độc lập đều tác động thuận chiều đến ý định mua thuốc BVTV sinh học.
  • Thứ hai, Chuẩn chủ quan là nhân tố có tác động mạnh nhất đến ý định mua với hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta cao nhất trong mô hình. Nông dân chịu sự tác động sâu sắc từ ý kiến của các thành viên gia đình, cộng đồng xóm giềng và hệ thống đại lý vật tư nông nghiệp địa phương.
  • Thứ ba, Giá trị của giá cả xếp vị trí thứ hai về mức độ tác động. Nông dân cân nhắc rất kỹ lưỡng giữa chi phí đầu tư mua thuốc, công lao động phun xịt và hiệu quả bảo vệ mùa màng thực tế trên mỗi hecta lúa.
  • Thứ tư, Nhận thức kiểm soát hành vi, Mối quan tâm đến môi trường và Thái độ đối với thuốc BVTV sinh học lần lượt giữ các vị trí tác động tiếp theo. Tính sẵn có của sản phẩm tại các đại lý vùng sâu vùng xa cùng thói quen phối trộn thuốc giữ vai trò tiên quyết trong việc kích hoạt ý định mua.
  • Thứ năm, kiểm định sự khác biệt nhân khẩu học cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định mua giữa nam giới (chiếm 69,9% mẫu) và nữ giới (chiếm 30,1% mẫu). Ngược lại, có sự khác biệt rõ rệt theo trình độ học vấn và thâm niên canh tác: Nhóm nông dân có trình độ trung cấp, cao đẳng (chiếm 18%) thể hiện mức độ sẵn sàng chi trả cho thuốc sinh học cao hơn đáng kể so với nhóm có trình độ phổ thông trung học trở xuống (chiếm 81%). Đồng thời, nông dân có thâm niên canh tác trên 10 năm có xu hướng tin tưởng và ưu tiên giải pháp sinh học cao hơn nhờ kinh nghiệm thực chứng về hiện tượng thoái hóa đất do thuốc hóa học gây ra.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích phản ánh chính xác thực trạng sản xuất nông nghiệp mang đậm tính cộng đồng làng xã tại ĐBSCL. Sự chi phối hàng đầu của Chuẩn chủ quan lý giải vì sao các phong trào canh tác tập trung như "1 phải 5 giảm" hay "3 giảm 3 tăng" khi được phát động thành công tại một hợp tác xã sẽ nhanh chóng lan tỏa ra toàn vùng. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Chen (2007) về hành vi tiêu dùng thực phẩm xanh, nhưng mang tính đặc thù cao hơn do tâm lý làm theo số đông của nông dân trồng lúa.

Yếu tố Giá trị của giá cả đóng vai trò then chốt vì canh tác lúa tại ĐBSCL có quy mô bình quân mỗi hộ trên 5.000 m2. Khi diện tích lớn, chi phí mua thuốc BVTV và thuê nhân công phun xịt chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành sản xuất. Nếu thuốc sinh học có giá thành cao hoặc tác dụng chậm khiến phải phun lặp lại nhiều lần, nông dân sẽ ngần ngại chuyển đổi.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các bảng ma trận xoay nhân tố EFA, bảng thống kê kiểm định giả định hồi quy không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến và biểu đồ cột so sánh giá trị trung bình thang đo ý định mua giữa các nhóm thâm niên canh tác. Điều này chứng minh rằng việc trang bị kiến thức nông nghiệp bền vững kết hợp với chính sách giá hợp lý sẽ là đòn bẩy kép thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh trên diện rộng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên kết đồng bộ theo mô hình "Bốn nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) với các mục tiêu định lượng cụ thể:

  • Nhóm giải pháp thúc đẩy Chuẩn chủ quan qua liên kết truyền thông: Doanh nghiệp sản xuất thuốc BVTV phối hợp với Chi cục Trồng trọt và BVTV tại 13 tỉnh ĐBSCL thiết lập 100 mô hình "Cánh đồng mẫu lớn sử dụng 100% thuốc BVTV sinh học chiết xuất thực vật". Tận dụng mạng lưới khuyến nông cơ sở và những nông dân sản xuất giỏi để truyền thông miệng, đặt mục tiêu gia tăng tỷ lệ tiếp cận thông tin chuẩn xác lên 60% số hộ trồng lúa trong giai đoạn 2015-2017.
  • Nhóm giải pháp tối ưu hóa Giá trị của giá cả và hỗ trợ chi phí: Doanh nghiệp chế tạo thuốc cần đẩy mạnh sản xuất quy mô công nghiệp để hạ giá thành sản phẩm thuốc sinh học xuống mức tương đương hoặc chỉ cao hơn tối đa 10% so với thuốc hóa học cùng công năng. Đồng thời, Ngân hàng Chính sách Xã hội và các cơ quan Nhà nước triển khai gói hỗ trợ tín dụng xanh, hỗ trợ giảm 2% lãi suất vay vốn cho các hộ nông dân chuyển đổi hoàn toàn sang quy trình sinh học.
  • Nhóm giải pháp nâng cao Nhận thức kiểm soát hành vi: Viện Lúa ĐBSCL và các trường đại học đẩy mạnh công tác chuyển giao quy trình kỹ thuật chuẩn về cách nhận biết thời điểm sâu bệnh, hướng dẫn kỹ thuật phối trộn và cách thức bảo quản thuốc sinh học ở nhiệt độ thường. Mục tiêu đạt 85% nông dân tham gia tập huấn nắm vững kỹ thuật tự kiểm soát dịch hại sinh học trong vòng 2 năm.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước và bảo vệ môi trường: Cơ quan quản lý Nhà nước tăng cường thanh tra 100% cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, loại bỏ triệt để các dòng thuốc hóa học độc hại nằm ngoài danh mục. Đồng thời, xây dựng cơ chế cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý và thu mua lúa an toàn sinh học với mức giá bao tiêu cao hơn từ 12% đến 15% so với lúa truyền thống, tạo động lực kinh tế bền vững cho người nông dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Doanh nghiệp sản xuất và phân phối thuốc BVTV: Sử dụng bộ thang đo và trọng số hồi quy của luận văn để tối ưu hóa chiến lược Marketing Mix (4P), định giá sản phẩm cạnh tranh, thiết kế hệ thống đại lý cấp 1, cấp 2 phủ sóng sâu rộng tới cấp xã ấp và xây dựng nội dung quảng bá nhắm đúng vào tâm lý đám đông của nông dân.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước và cán bộ khuyến nông: Ứng dụng kết quả phân tích sự khác biệt theo trình độ học vấn và thâm niên canh tác để phân khúc đối tượng truyền thông, xây dựng các khóa đào tạo chuyển giao kỹ thuật sát thực tế cho từng địa phương tại ĐBSCL.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế, Marketing: Tham khảo một mô hình ứng dụng lý thuyết TPB mở rộng hoàn chỉnh, phương pháp thiết kế mẫu định mức kết hợp bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp chuẩn mực và quy trình xử lý dữ liệu định lượng trên SPSS.
  • Hợp tác xã nông nghiệp và chủ trang trại quy mô lớn: Căn cứ vào dữ liệu so sánh chi phí - lợi ích và đặc tính kỹ thuật của thuốc chiết xuất thực vật để chủ động lập kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sử dụng thuốc BVTV, đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP cho lúa gạo xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Chuẩn chủ quan lại là yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định mua thuốc BVTV sinh học? Đặc thù sản xuất lúa nước tại ĐBSCL gắn liền với văn hóa cộng đồng làng xã và tính liên kết vùng. Nông dân thường xuyên trao đổi kinh nghiệm tại các buổi sinh hoạt hợp tác xã hoặc đại lý vật tư. Khi các chuyên gia khuyến nông và những nông dân uy tín khẳng định hiệu quả của thuốc sinh học thảo mộc, áp lực xã hội tích cực sẽ thúc đẩy các hộ khác làm theo.

Giá trị của giá cả ảnh hưởng đến quyết định của nông dân trồng lúa như thế nào? Với diện tích canh tác lớn từ 5.000 m2 trở lên, nông dân luôn tính toán bài toán kinh tế tổng thể gồm giá thuốc và công phun xịt. Nông dân sẵn sàng mua thuốc sinh học có giá bán cao hơn nếu sản phẩm mang lại hiệu quả diệt trừ sâu bệnh triệt để, hạn chế số lần phun lặp lại và giúp tăng phẩm cấp hạt lúa khi thu hoạch.

Thuốc BVTV sinh học nguồn gốc thực vật có ưu thế gì so với dạng vi sinh? Thuốc chiết xuất thực vật (như hoạt chất Azadirachtin từ cây neem, Rotenone hay Polyphenol) khắc phục được điểm yếu lớn của chế phẩm vi sinh. Dòng sản phẩm này có thể bảo quản dễ dàng trong điều kiện tự nhiên, phối trộn linh hoạt với các loại phân bón lá và sản xuất công nghiệp quy mô lớn để hạ giá thành.

Giới tính của người nông dân có tạo ra sự khác biệt trong ý định mua thuốc sinh học không? Kết quả kiểm định T-test trên 206 mẫu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ. Dù nam giới trực tiếp phun xịt chiếm 69,9% và nữ giới chiếm 30,1%, cả hai giới đều có chung nhận thức về bảo vệ sức khỏe gia đình và đồng thuận trong việc chuyển đổi sang thuốc sinh học an toàn.

Nông dân có thâm niên canh tác cao đón nhận thuốc BVTV sinh học ra sao? Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt rõ rệt theo thâm niên. Nhóm nông dân canh tác lâu năm có trải nghiệm thực tế về tình trạng đất bị chai cứng, thoái hóa do thuốc hóa học gây ra qua hàng chục vụ mùa. Do đó, họ có ý định và quyết tâm chuyển sang sử dụng thuốc sinh học cao hơn nhóm mới làm nông.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm định thành công mô hình Thuyết hành vi hoạch định mở rộng, giải thích rõ các động lực thúc đẩy ý định mua thuốc BVTV sinh học của nông dân trồng lúa ĐBSCL.
  • Xác định 5 nhân tố tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê theo thứ tự giảm dần: Chuẩn chủ quan, Giá trị của giá cả, Nhận thức kiểm soát hành vi, Mối quan tâm môi trường và Thái độ.
  • Chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa các biến nhân khẩu học (trình độ học vấn, thâm niên canh tác) với xu hướng tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp thân thiện môi trường.
  • Đóng góp bộ thang đo chuẩn hóa gồm 25 biến quan sát đã qua kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu hành vi kinh tế xanh.
  • Đề xuất mô hình phối hợp đồng bộ "Bốn nhà" nhằm tháo gỡ nút thắt giá thành và kỹ thuật, hướng tới mở rộng tỷ lệ sử dụng thuốc BVTV sinh học đạt trên 20% trong giai đoạn tới.

Công trình nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận thực tiễn trong việc thay đổi tập quán canh tác của nông dân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam xanh, an toàn và phát triển bền vững. Các doanh nghiệp và nhà quản lý hãy ứng dụng ngay mô hình liên kết Bốn nhà để thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo sinh học vươn tầm quốc tế.