Tổng quan nghiên cứu

Nền nông nghiệp Việt Nam giữ vị thế trọng yếu trong cơ cấu kinh tế quốc gia, đóng góp 602,3 nghìn tỷ đồng vào năm 2013, tương đương 16,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng vai trò là vựa lúa lớn nhất cả nước, trực tiếp thúc đẩy sản lượng lúa từ 32,51 triệu tấn năm 2000 lên mức 43,75 triệu tấn năm 2012 với năng suất bình quân đạt 5,60 tấn/ha, giúp Việt Nam duy trì vị trí top 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với 6,61 triệu tấn. Tuy nhiên, áp lực thâm canh tăng vụ trên diện tích canh tác ngày càng thu hẹp đã dẫn tới tình trạng lạm dụng nghiêm trọng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học. Lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng vọt từ 6,5 - 9 nghìn tấn giai đoạn 1981 - 1986 lên hơn 103.500 tấn vào năm 2012 với tổng giá trị xấp xỉ 700 - 800 triệu USD, khiến lượng hoạt chất hóa học tăng mạnh từ 0,3 kg/ha lên 1,24 - 2,54 kg/ha.

Hậu quả của việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp là 8,53% số mẫu nông sản kiểm tra vượt quá dư lượng tối đa cho phép và khoảng 35% nông dân tại ĐBSCL được xét nghiệm phát hiện có tồn dư hóa chất BVTV trong máu. Mặc dù thuốc BVTV sinh học chiết xuất từ thực vật sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội về độ an toàn sinh thái, tỷ lệ sử dụng sản phẩm này trên toàn quốc mới chỉ đạt khoảng 5%, riêng khu vực ĐBSCL đạt mức 8,8%.

Xuất phát từ thực trạng trên, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh doanh Thương mại của tác giả Hoàng Ngọc Thanh, dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Thị Ngọc Huyền tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tập trung nghiên cứu đề tài: "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thuốc bảo vệ thực vật sinh học của nông dân vùng lúa Đồng bằng sông Cửu Long". Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm việc nhận diện các nhân tố chi phối, đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định mua thuốc BVTV sinh học gốc thực vật, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp liên kết đồng bộ nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi tập quán canh tác của nông dân từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2014 trên địa bàn 13 tỉnh thành ĐBSCL.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng và tích hợp hai nền tảng lý thuyết hành vi kinh điển: Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) của Ajzen và Fishbein (1975) cùng Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1985, 1991). Mô hình TPB giải thích rằng ý định hành vi của cá nhân chịu sự tác động đồng thời của Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Để thích ứng tối ưu với đặc thù sản phẩm nông nghiệp xanh tại Việt Nam, tác giả mở rộng mô hình bằng việc bổ sung hai yếu tố then chốt: Mối quan tâm đến môi trường (dựa trên nghiên cứu của Sidique và cộng sự, 2010; Mostafa, 2009) và Giá trị của giá cả (kế thừa từ Dodds và cộng sự, 1991; Venkatesh và cộng sự, 2012).

Khung nghiên cứu vận hành dựa trên 5 khái niệm cốt lõi:

  1. Thuốc BVTV sinh học chiết xuất thực vật: Các chế phẩm phòng trừ sâu bệnh chứa hoạt chất tự nhiên từ thảo mộc (như cây xoan Ấn Độ, neem, thanh hao, núc nắc, hoa hòe, vỏ liễu), có khả năng phân hủy sinh học nhanh, không gây hiện tượng kháng thuốc và an toàn cho thiên địch.
  2. Thái độ đối với thuốc BVTV sinh học: Nhận thức tích cực hoặc tiêu cực của người nông dân về tính hữu ích, khả năng bảo vệ môi trường và lợi ích mùa màng khi sử dụng sản phẩm.
  3. Chuẩn chủ quan: Sức ép từ gia đình, cộng đồng nông thôn, khuyến nông viên và láng giềng thúc đẩy người nông dân thực hiện hành vi mua.
  4. Nhận thức kiểm soát hành vi: Niềm tin về sự sẵn có của sản phẩm trên thị trường, tính dễ mua, dễ bảo quản, dễ phối trộn và kiến thức canh tác sẵn có.
  5. Giá trị của giá cả: Sự tương quan hợp lý giữa lợi ích kinh tế, năng suất mùa màng thu được so với tổng chi phí tài chính đầu tư mua thuốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng chặt chẽ trong khoảng thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014. Nghiên cứu định tính được tiến hành qua 2 đợt thảo luận tay đôi tại Cần Thơ: đợt 1 khảo sát chuyên sâu 5 chuyên gia (gồm cán bộ Viện Lúa ĐBSCL, kỹ sư Công ty TNHH TM Tân Thành, Giám đốc Nhà máy thuốc BVTV Delta và chủ nhiệm câu lạc bộ nông dân) nhằm hiệu chỉnh thang đo nháp; đợt 2 thử nghiệm trên 10 nông dân để kiểm tra mức độ rõ ràng của bộ công cụ khảo sát gồm 25 biến quan sát sử dụng thang đo Likert 5 điểm.

Trong nghiên cứu định lượng, tác giả phát ra 300 phiếu điều tra trực tiếp theo kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện có định mức phân bổ tại 13 tỉnh thành ĐBSCL (7 tỉnh diện tích lớn khảo sát từ 30 mẫu/tỉnh; 6 tỉnh nhỏ khảo sát khoảng 15 mẫu/tỉnh). Kết quả thu về 218 phiếu, sau khi làm sạch thu được 206 mẫu hợp lệ (đạt tỷ lệ 68,67%). Cỡ mẫu 206 đáp ứng hoàn hảo tiêu chuẩn mẫu tối thiểu 125 của Hair và cộng sự (2006) đối với phân tích nhân tố khám phá EFA (tỷ lệ 5 quan sát/1 biến đo lường cho 25 biến) và vượt chuẩn 90 mẫu cho phân tích hồi quy tuyến tính bội với 5 biến độc lập theo công thức kinh nghiệm. Dữ liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson, mô hình hồi quy đa biến cùng kiểm định T-test và One-way ANOVA để nhận diện sự khác biệt nhân khẩu học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình kiểm định thang đo đã loại bỏ 3 biến quan sát không đạt độ tin cậy, 22 biến còn lại được đưa vào phân tích hồi quy tuyến tính. Kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy cả 5 nhân tố đều tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) đến ý định mua thuốc BVTV sinh học của nông dân trồng lúa vùng ĐBSCL:

  1. Chuẩn chủ quan là yếu tố có tác động mạnh nhất đến ý định mua thuốc BVTV sinh học với hệ số Beta chuẩn hóa cao nhất trong mô hình. Điều này chứng minh rằng quyết định của người nông dân chịu sự chi phối áp đảo từ khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật, ý kiến người thân và tập quán của cộng đồng làng xã xung quanh.
  2. Giá trị của giá cả giữ vị trí tác động mạnh thứ hai. Người nông dân đặc biệt nhạy cảm với mức chi phí đầu tư trên diện tích canh tác lớn (trung bình từ 5.000 m2 trở lên). Khi nhận thấy chi phí bỏ ra tương xứng với hiệu lực bảo vệ mùa màng, ý định mua sản phẩm sinh học tăng lên rõ rệt.
  3. Nhận thức kiểm soát hành vi và Mối quan tâm đến môi trường lần lượt giữ vị trí tác động thứ ba và thứ tư. Mức độ sẵn có của hàng hóa tại đại lý địa phương cùng tính dễ phối trộn đóng vai trò quyết định đến việc chuyển hóa nhu cầu thành hành động mua.
  4. Thái độ đối với sản phẩm đứng ở vị trí thứ năm, củng cố nhận thức rằng dù nông dân có thiện cảm với sản phẩm xanh nhưng nếu thiếu sự hỗ trợ về mạng lưới bán hàng và áp lực xã hội thì ý định mua vẫn chưa thể bứt phá.
  5. Về đặc điểm nhân khẩu học trong 206 mẫu: Nam giới chiếm 69,9%, nữ giới chiếm 30,1%; trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở xuống chiếm 81,0% (167 người), trung cấp/cao đẳng chiếm 18,0% (37 người) và đại học chiếm 1,0% (2 người). Kiểm định T-test cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ về ý định mua (p > 0,05), trong khi kiểm định One-way ANOVA chỉ ra sự khác biệt rất rõ nét giữa các nhóm trình độ học vấn và các nhóm thâm niên canh tác (p < 0,05).

Thảo luận kết quả

Thứ tự tác động của các biến phản ánh trung thực bối cảnh nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Chuẩn chủ quan chiếm ưu thế vượt trội vì người nông dân vùng ĐBSCL có tính gắn kết cộng đồng rất cao; họ thường xuyên trao đổi kinh nghiệm qua các buổi sinh hoạt câu lạc bộ khuyến nông hoặc học hỏi kỹ thuật từ các hộ canh tác giỏi lân cận. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Chen (2007) về hành vi tiêu dùng thực phẩm hữu cơ, nhưng có sự khác biệt nhất định so với các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển nơi yếu tố thái độ cá nhân thường chi phối hàng đầu.

Giá trị của giá cả tác động mạnh bắt nguồn từ áp lực chi phí sản xuất thực tế. Trong bối cảnh giá thuê nhân công phun xịt ngày càng đắt đỏ tại nông thôn, nếu thuốc sinh học tác động chậm hoặc đòi hỏi phun lặp lại nhiều lần, tổng chi phí trên một vụ mùa sẽ đội lên đáng kể. Việc phân tích dữ liệu nên được hiển thị trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh trọng số Beta chuẩn hóa của 5 nhân tố độc lập và bảng thống kê kiểm định ANOVA biểu diễn giá trị trung bình thang đo ý định mua giữa các nhóm thâm niên canh tác, qua đó giúp các nhà quản trị nhận diện nhóm khách hàng mục tiêu một cách trực quan và chuẩn xác.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên mô hình liên kết "4 nhà", luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng tỷ lệ tiêu thụ thuốc BVTV sinh học tại ĐBSCL:

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước: Ban hành chính sách ưu đãi thuế và siết chặt tiêu chuẩn an toàn
  • Hành động: Thực hiện giảm 15 - 20% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu đối với các đơn vị sản xuất chế phẩm sinh học nguồn gốc thực vật; đồng thời tăng cường thanh tra dư lượng thuốc hóa học trên thị trường.
  • Target metric: Nâng tỷ trọng tiêu thụ thuốc BVTV sinh học tại ĐBSCL từ mức 8,8% hiện nay lên mức 20 - 25% tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ toàn vùng.
  • Timeline: Triển khai từ quý 1/2027 đến năm 2030.
  • Chủ thể: Cục Bảo vệ thực vật phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 13 tỉnh ĐBSCL.
  1. Doanh nghiệp sản xuất và phân phối: Mở rộng mạng lưới đại lý và chuẩn hóa định giá
  • Hành động: Thiết lập hệ thống cung ứng bao phủ hơn 85% đại lý vật tư nông nghiệp cấp xã/ấp; áp dụng chính sách trợ giá dùng thử nhằm giảm 10 - 15% giá bán ban đầu giúp nông dân dễ tiếp cận.
  • Target metric: Đạt tỷ lệ trên 90% điểm bán lẻ luôn có sẵn hàng sinh học và nâng chỉ số nhận thức giá trị sản phẩm lên trên 80%.
  • Timeline: Thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2027 đến 2029.
  • Chủ thể: Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV (như Công ty Tân Thành, Delta, Syngenta).
  1. Nhà khoa học và viện nghiên cứu: Cải tiến hoạt tính sinh học và chuyển giao công nghệ
  • Hành động: Đẩy mạnh nghiên cứu trích ly hoạt chất từ nguồn thảo mộc bản địa (cây neem, thanh hao, vỏ liễu), cải thiện độ bám dính, rút ngắn thời gian phát huy hiệu lực và nâng cao khả năng phối trộn thuốc.
  • Target metric: Chuyển giao thành công 3 - 5 công thức thương phẩm mới có phổ diệt trừ rộng, đảm bảo tỷ lệ kiểm soát dịch hại đạt trên 85% tương đương thuốc hóa học.
  • Timeline: Giai đoạn 2027 - 2029.
  • Chủ thể: Viện Lúa ĐBSCL kết hợp cùng Khoa Nông nghiệp các trường đại học chuyên ngành.
  1. Nhà nông và hệ thống khuyến nông: Xây dựng cánh đồng mẫu lớn và lan tỏa chuẩn chủ quan
  • Hành động: Tổ chức 500 lớp tập huấn thực tế trên đồng ruộng kết hợp chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), lấy các nông dân sản xuất giỏi làm hạt nhân tuyên truyền cho cộng đồng.
  • Target metric: Tiếp cận và chuyển đổi nhận thức cho hơn 100.000 hộ nông dân trồng lúa, nâng diện tích ứng dụng thuốc sinh học trong các hợp tác xã lên 40%.
  • Timeline: Triển khai liên tục mỗi vụ lúa từ năm 2027 đến 2030.
  • Chủ thể: Trung tâm Khuyến nông các tỉnh ĐBSCL phối hợp Hội Nông dân địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật: Giúp ban giám đốc và bộ phận marketing thấu hiểu hành vi tiêu dùng của nông dân, từ đó tối ưu hóa chiến lược định giá, thiết kế chính sách chiết khấu đại lý và xây dựng thông điệp truyền thông đánh trúng tâm lý cộng đồng nông thôn.
  2. Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nông nghiệp: Cung cấp căn cứ khoa học xác thực giúp các cơ quan quản lý nông nghiệp tại 13 tỉnh ĐBSCL ban hành các đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ, phân bổ ngân sách khuyến nông và thiết lập hàng rào kỹ thuật kiểm soát thuốc hóa học độc hại.
  3. Nhà khoa học, viện nghiên cứu và kỹ sư nông học: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về nhu cầu thị trường đối với các dòng thuốc BVTV chiết xuất thực vật, tạo định hướng thực tế cho các dự án nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học có khả năng thương mại hóa cao.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp/Marketing: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp mở rộng mô hình TPB, kỹ thuật thiết kế thang đo cho sản phẩm thân thiện môi trường và quy trình xử lý dữ liệu định lượng trên SPSS.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chuẩn chủ quan lại có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định mua thuốc sinh học của nông dân?

Nông dân vùng ĐBSCL sinh sống và canh tác trong môi trường cộng đồng làng xã gắn kết chặt chẽ. Khi đưa ra quyết định thay đổi loại vật tư nông nghiệp có tính rủi ro cao đối với thu nhập cả vụ mùa, họ có xu hướng tin tưởng tuyệt đối vào kinh nghiệm của những nông dân sản xuất giỏi, khuyến cáo từ cán bộ khuyến nông địa phương và ý kiến của người thân trong gia đình.

Giá trị của giá cả tác động như thế nào đến quyết định mua thuốc sinh học?

Nông dân ĐBSCL canh tác quy mô bình quân lớn (từ 5.000 m2 trở lên) nên chi phí vật tư và nhân công phun xịt chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn đầu tư. Họ không chỉ nhìn vào mức giá niêm yết trên chai thuốc mà đánh giá sự tương quan giữa số tiền chi trả với hiệu quả tiêu diệt sâu bệnh và mức độ duy trì năng suất lúa thực tế trên ruộng.

Yếu tố nhân khẩu học nào tạo ra sự khác biệt rõ rệt nhất về ý định sử dụng thuốc sinh học?

Phân tích One-way ANOVA chỉ ra rằng trình độ học vấn và thâm niên canh tác tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với ý định mua thuốc sinh học. Nhóm nông dân có trình độ học vấn cao hơn hoặc có thâm niên canh tác lâu năm thể hiện nhận thức sâu sắc hơn về tác hại của tồn dư hóa chất, từ đó có xu hướng sẵn sàng đón nhận các sản phẩm sinh học cao hơn.

Vì sao nghiên cứu lại tập trung vào nhóm thuốc BVTV sinh học chiết xuất thực vật thay vì nhóm vi sinh?

Nhóm thuốc có nguồn gốc chiết xuất thực vật (như neem, cây liễu, thanh hao) sở hữu nhiều ưu thế thực tiễn vượt trội như khả năng bảo quản ở điều kiện nhiệt độ thường, dễ dàng phối trộn với các sản phẩm phân bón lá khác, phát huy hiệu lực nhanh và có thể sản xuất quy mô công nghiệp để giảm giá thành, rất phù hợp với điều kiện canh tác lúa tại ĐBSCL.

Nghiên cứu này đóng góp điểm mới gì so với các công trình trước đây tại Việt Nam?

Khác với các đề tài trước chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng kỹ thuật hoặc đo lường sự hài lòng của hệ thống đại lý phân phối, công trình này tiên phong vận dụng mô hình hành vi hoạch định TPB mở rộng để phân tích sâu sắc cơ chế tâm lý và hành vi của chính người tiêu dùng cuối cùng là người nông dân trồng lúa tại ĐBSCL.

Kết luận

  • Luận văn xác định 5 nhân tố tác động tích cực đến ý định mua thuốc BVTV sinh học của nông dân ĐBSCL, trong đó Chuẩn chủ quan và Giá trị của giá cả giữ vai trò chi phối chủ đạo.
  • Công trình chỉ ra khoảng trống thị trường rất lớn khi tỷ lệ sử dụng thuốc sinh học tại ĐBSCL mới đạt 8,8%, dù cả nước nhập khẩu hơn 103.500 tấn thuốc BVTV mỗi năm.
  • Kết quả kiểm định thống kê khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa về ý định mua giữa các nhóm trình độ học vấn và thâm niên canh tác, trong khi yếu tố giới tính không tạo ra sự phân hóa.
  • Mô hình tích hợp "4 nhà" được lượng hóa bằng các chỉ tiêu cụ thể nhằm giải quyết triệt để nút thắt về giá bán, tính sẵn có của hàng hóa và thói quen canh tác truyền thống.
  • Đề tài tạo tiền đề học thuật và thực tiễn vững chắc, định hình lộ trình chuyển đổi toàn diện sang nền nông nghiệp lúa gạo sinh thái bền vững trong giai đoạn 2027 - 2030.

Các tổ chức nghiên cứu, cơ quan ban ngành và doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp hãy nhanh chóng liên kết chặt chẽ để triển khai các mô hình canh tác lúa sạch sử dụng thuốc BVTV sinh học, chung tay bảo vệ môi trường sinh thái và nâng tầm giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.