Mở đầu với lịch sử thức ăn dành cho thú cưng đầu tiên dựa theo dữ liệu từ trang web (Pet Food Institute, 2022) là thức ăn cho vật nuôi được chế tạo đặc biệt cho nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt của chó con đã được giới thiệu vào đầu những năm 1960 - khi ngày càng có nhiều người xem chó và mèo của họ là một phần của cuộc sống gia đình. Hầu hết thức ăn dành cho vật nuôi ở Hoa Kỳ được chế biến thương mại hiện nay đều được chế biến theo công thức “đầy đủ và cân bằng”, nghĩa là nó cung cấp tất cả các yêu cầu dinh dưỡng của vật nuôi ở mức chính xác. Đối với thông tin từ trang web PFIAA (Hiệp hội Công nghiệp Thức ăn Vật nuôi Úc) cho rằng thức ăn vật nuôi chế biến sẵn từ các nhà sản xuất thức ăn vật nuôi có uy tín đi kèm với sự đảm bảo về đầy đủ dinh dưỡng. Lựa chọn những thực phẩm đầy đủ dinh dưỡng, được phát triển để cung cấp một chế độ ăn uống cân bằng.
Những thực phẩm này cung cấp tất cả các yêu cầu của động vật về năng lượng, protein, chất béo, vitamin và khoáng chất (Admin PFIAA, 2024). Theo đó, góc nhìn của bác sĩ thú y Steven C. Zicker về thức ăn cho thú cưng là được chế biến sẵn trên thị trường một cách dễ dàng và tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi. Những loại thực phẩm này cung cấp hơn 90% lượng calo tiêu thụ của vật nuôi ở Bắc Mỹ, Nhật Bản, Bắc Âu, Úc và New Zealand (Steven C.
Ngoài ra còn có quan điểm khái niệm thức ăn cho thú cưng của Tiến sĩ Angele Thompson là thức ăn cho vật nuôi có thể đơn giản như một thành phần hoặc phức tạp như chứa hơn 60 thành phần. Thành phần cho công thức sản phẩm được lựa chọn dựa trên hàm lượng dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa, độ ngon miệng, chức năng, tính sẵn có và giá thành. Thức ăn cho thú cưng an toàn, tốt cho sức khỏe bắt đầu từ những nguyên liệu an toàn có nguồn gốc từ các nhà cung cấp được giám sát chặt chẽ (Angele Thompson PhD, 2008). Tóm lại, thức ăn cho thú cưng là các loại thực phẩm được sản xuất và chế biến đặc biệt để cung cấp dinh dưỡng cho các loài vật nuôi như chó, mèo, cá, thỏ,.
Chúng được bán tại 8 cửa hàng thú cưng và siêu thị, được thiết kế để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cụ thể của từng loài vật. Thức ăn có thể đơn giản hoặc phức tạp, phụ thuộc vào việc lựa chọn các thành phần dựa trên dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa và đặc điểm của từng loài. Đảm bảo an toàn và sức khỏe cho thú cưng là ưu tiên hàng đầu, với việc sử dụng nguồn nguyên liệu an toàn và được kiểm soát chặt chẽ. Qua việc lựa chọn thức ăn phù hợp, người chủ có thể chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của thú cưng của mình một cách tốt nhất.2 Khái niệm mua sắm trực tuyến Trước đây, khái niệm mua sắm trực tuyến đã từng được mô tả bởi Chao-Min Chiu với các cộng sự (2009) như một sự trao đổi về thời gian, công sức và tiền bạc để nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ (Chiu, et al.
Sau đó, Jusoh và Ling (2012) định nghĩa mua sắm trực tuyến là quá trình khách hàng thực hiện để mua một dịch vụ hoặc sản phẩm qua Internet. Người tiêu dùng có thể thoải mái mua các sản phẩm từ một cửa hàng trực tuyến (Jusoh & Ling, 2012). Nói cách khác trong mua sắm trực tuyến, khách hàng sử dụng một ứng dụng mà khách hàng có thể sử dụng để mua sắm như mua sắm ở chợ, cửa hàng. Sau đó khách hàng chọn sản phẩm, sau đó khách hàng cho vào giỏ hàng và cuối cùng là khách hàng thanh toán.
Ngoài ra, khi sử dụng ứng dụng khách hàng không cần phải đến cửa hàng, chợ mà chỉ cần gọi điện và tương tác với ứng dụng cho đến khi khách hàng nhận được sản phẩm mình mua (Setyoadi & Rahmawati, 2024). Hiện nay, công nghệ không ngừng phát triển mỗi ngày và lan truyền nhanh chóng trên toàn thế giới. Điều này đã mang lại cho một số doanh nghiệp cơ hội tận dụng lợi thế để tiếp cận số lượng lớn người dùng thông qua phương tiện đơn giản là Internet. Các doanh nghiệp có thể quảng cáo và thậm chí bán hàng hóa của họ trực tuyến.
Quá trình bán hàng trực tuyến này được gọi là bán lẻ trực tuyến. Nó còn được gọi là mua sắm trực tuyến, thương mại điện tử, mua sắm điện tử, mua sắm trên Internet,. Nói chung, mua sắm trực tuyến là quá trình mà khách hàng sử dụng các phương tiện điện tử như trang web, ứng dụng di động để lựa chọn và mua các sản phẩm hoặc dịch vụ từ các nhà cung cấp trên Internet mà không cần phải đến cửa hàng trực tiếp. Quá trình này thường bao gồm việc lựa chọn sản phẩm, thêm vào giỏ hàng và thanh toán trực tuyến.
Mua sắm 9 trực tuyến cung cấp sự tiện lợi và linh hoạt cho người tiêu dùng cũng như cơ hội cho các doanh nghiệp để tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thông qua Internet.3 Khái niệm về ý định Trong bài nghiên cứu "Niềm tin, thái độ, ý định và hành vi: Giới thiệu về lý thuyết và nghiên cứu" của Ajzen với Fishbein đã chỉ ra rằng ý định trong lý thuyết hiện tại đề cập đến việc thực hiện một hành động nhất định trong một tình huống nhất định. Tức là, ý định mua hàng có thể được coi là sự đánh giá về hành động mua hàng hoặc tình huống tâm lý thể hiện nhận thức đặc biệt đối với hành vi cụ thể và có thể là yếu tố dự đoán chính của bất kỳ hành vi nào (Ajzen & Fishbein, 1975a, 1977b). Theo Ajzen (1991), các yếu tố nắm bắt sự sẵn sàng thực hiện hành vi của con người được gọi là ý định hành vi. Thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và ý định hành vi được cảm nhận đều ảnh hưởng đến ý định hành vi này (Ajzen, 1991).
Kế tiếp là ý định phản ánh hành vi trong tương lai (Alam, et al. Dựa trên Rezvani và cộng sự (2012), ý định mua hàng đề cập đến hành động đưa ra quyết định thể hiện thái độ của một người đối với các sản phẩm cụ thể (Rezvani, et al. Kết luận lại, ý định là sự sẵn sàng và ý chí của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi cụ thể trong một tình huống nhất định. Ý định được xem là yếu tố dự đoán chính của hành vi và được ảnh hưởng bởi thái độ của cá nhân đối với hành vi đó, các chuẩn mực chủ quan và cảm nhận về ý định của bản thân.
Ý định có thể phản ánh hành vi trong tương lai và thường được liên kết với quyết định thể hiện thái độ của cá nhân đối với một sản phẩm hoặc hành vi cụ thể.2 Các mô hình lý thuyết nền 2.1 Thuyết hành vi dự định (TPB) Mô hình lý thuyết hành vi dự định Theory of Planned Behavior (TPB) này được phát triển bởi Ajzen (1991), là sự mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý Theory of reasoned action (TRA) (Ajzen & Fishbein, 1975a, 1977b), nó trở nên cần thiết do những hạn chế của mô hình ban đầu trong việc xử lý các hành vi mà con người không có sự kiểm soát ý chí không đầy đủ (Ajzen, 1991). Lý thuyết này cho rằng hành động của một người phụ thuộc vào ý 10 định hành vi, mà ý định hành vi này lại bị ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và ý định hành vi được cảm nhận. Một trong những hạn chế của TRA là nó không bao giờ tính đến việc kiểm soát hành vi nhận thức (Alam & Sayuti, 2011). Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen (1991) nói về ba yếu tố quyết định ý định hành vi.
Đầu tiên là thái độ, cụ thể là mức độ mà một người đánh giá thuận lợi hay không thuận lợi đối với hành vi. Yếu tố thứ hai là chuẩn mực chủ quan, nó tập trung vào áp lực xã hội mà cá nhân nhận thức để xác định việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Cuối cùng là mức độ nhận thức kiểm soát hành vi, liên quan đến sự dễ dàng hoặc khó khăn được nhận thức khi thực hiện hành vi, nó được cho là dựa trên kinh nghiệm và các trở ngại được dự đoán trước. Theo nguyên tắc chung, thái độ và chuẩn mực chủ quan đối với một hành vi càng thuận lợi và khả năng kiểm soát hành vi được nhận thức càng lớn thì ý định thực hiện hành vi đang được xem xét của một cá nhân càng mạnh mẽ (Ajzen, 1991).
Thái độ đối với hành vi Chuẩn mực chủ Ý định Hành vi quan Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.1: Thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen, 1991 11 2.2 Mô hình chấp nhận công nghệ 3 (TAM3) Do nhà nghiên cứu trước đây tập trung vào việc đưa ra quyết định của nhân viên trong việc lựa chọn và sử dụng công nghệ thông tin tại nơi làm việc, Venkatesh và Davis (2000) đã kết hợp TAM2 và mô hình về nhận thức tính dễ sử dụng với các yếu tố của nó và phát triển một mô hình mới, cụ thể là mô hình tích hợp về chấp nhận công nghệ 3 (TAM3) - Technology Acceptance Model (Venkatesh & Davis, 2000). Tiếp đó, Venkatesh và Bala (2008) làm đầy đủ hơn về nghiên cứu hạn chế trong các biện pháp can thiệp có thể dẫn đến sự chấp nhận và sử dụng hiệu quả hơn CNTT và ra quyết định quản lý (Venkatesh, 2008). TAM3 của Venkatesh và Bala (2008) trình bày một mạng lưới danh nghĩa hoàn chỉnh của các yếu tố quyết định việc chấp nhận và sử dụng CNTT của các cá nhân và nhấn mạnh mô hình có ý nghĩa quan trọng đối với việc ra quyết định quản lý về triển khai CNTT trong các tổ chức. Ý định hành vi sử dụng CNTT được xác định bởi hai niềm tin: nhận thức về tính hữu ích là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng CNTT sẽ nâng cao hiệu suất làm việc của họ và nhận thức về tính dễ sử dụng nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng CNTT sẽ được tự do khỏi nỗ lực.
Nó tiếp tục đưa ra giả thuyết rằng ảnh hưởng của các biến bên ngoài (ví dụ, thiết kế đặc điểm) về ý định hành vi sẽ được điều chỉnh bởi sự hữu ích được nhận thức và nhận thức dễ sử dụng (Venkatesh, 2008).