Những Yếu Tố Tác Động Đến Ý Định Chia Sẻ Tri Thức Trực Tuyến Trong Thời Kỳ COVID-19 Tại TPHCM

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chia sẻ tri thức trực tuyến của lao động quản lý tại TPHCM trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

147
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Ý nghĩa khoa học

1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.6. Kết cấu đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Khái niệm tri thức

2.1.2. Khái niệm chia sẻ tri thức

2.1.3. Khái niệm ý định

2.1.4. Khái niệm ý định chia sẻ tri thức

2.1.5. Khái niệm ý định chia sẻ tri bằng hình trực tuyến

2.1.6. Khái niệm lực lượng lao động quản lý

2.1.7. Lực lượng lao động ở ngưỡng tuổi về hưu

2.1.8. Thời kỳ đại dịch Covid-19

2.2. Các mô hình lý thuyết có liên quan

2.2.1. Lý thuyết hành vi hoạch định TPB

2.2.2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM

2.3. Các nghiên cứu có liên quan

2.3.1. Các nghiên cứu trong nước có liên quan

2.3.2. Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan

2.4. Tổng hợp tóm tắt những nhân tố của các nghiên cứu liên quan

2.5. Giả thuyết nghiên cứu

2.5.2. Kiểm soát nhận thức hành vi

2.5.3. Tính dễ sử dụng

2.5.4. Lợi ích nhận thức

2.5.5. Nhận thức rủi ro dịch bệnh

2.6. Mô hình đề xuất của tác giả

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tiến trình nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.2.2.1. Nghiên cứu định lượng sơ bộ
3.2.2.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.3. Phương pháp chọn mẫu và phương pháp điều tra khảo sát

3.3.2. Phương pháp chọn mẫu

3.3.3. Phương pháp điều tra khảo sát

3.4. Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi

3.4.1. Xây dựng thang đo

3.4.1.1. Xây dưng thang đo sơ bộ
3.4.1.2. Kết quả kiểm định sơ bộ
3.4.1.3. Xây dựng thang đo chính thức

3.4.2. Thiết kế bảng câu hỏi chính thức

3.5. Phương pháp thu thập thông tin

3.5.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

3.5.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

3.6. Phương pháp xử lý thông tin

3.6.1. Phương pháp xử lý thông tin thứ cấp

3.6.2. Phương pháp xử lý thông tin sơ cấp

3.6.2.1. Phương pháp thống kê mô tả
3.6.2.2. Phương pháp kiểm định độ tin cậy
3.6.2.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)
3.6.2.4. Phân tích tương quan - hồi quy
3.6.2.5. Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính
3.6.2.6. Phương pháp tính giá trị trung bình mean của các biến
3.6.2.7. Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm thống kê

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Phân tích tổng quan môi trường

4.1.1. Tổng quan về tình hình dịch bệnh ở TPHCM

4.1.2. Tổng quan về cơ cấu lực lượng lao động ở TPHCM

4.1.2.1. Tình hình lực lượng lao động đã về hưu ở TPHCM
4.1.2.2. Tình hình lực lượng lao động sắp về hưu ở TPHCM
4.1.2.3. Tình hình lực lượng lao động trẻ ở TPHCM

4.2. Phân tích dữ liệu

4.2.1. Phân tích thống kê mô tả

4.2.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha

4.2.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các yếu tố

4.2.3.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập
4.2.3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc

4.2.4. Phân tích tương quan Pearson

4.2.5. Phân tích hồi quy tuyến tính

4.2.5.1. Kiểm định hệ số hồi quy
4.2.5.2. Kiểm định giá trị phù hợp với mô hình
4.2.5.3. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
4.2.5.4. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

4.2.6. Phân tích T-Test, phương sai ANOVA

4.2.6.1. Phân tích T-Test
4.2.6.2. Phương sai ANOVA

4.2.7. Tính giá trị trung bình mean cho các biến quan sát của các yếu tố

4.2.7.1. Yếu tố Thái độ
4.2.7.2. Yếu tố Kiểm soát nhận thức hành vi
4.2.7.3. Yếu tố Tính dễ sử dụng
4.2.7.4. Lợi ích nhận thức
4.2.7.5. Nhận thức rủi ro dịch bệnh

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.2.1. Kết quả nghiên cứu

5.2.2. Đối sánh với các bài nghiên cứu có liên quan

5.2.3. Đề xuất hàm ý quản trị

5.2.3.1. Hàm ý quản trị yếu tố Nhận thức rủi ro dịch bệnh
5.2.3.2. Hàm ý quản trị yếu tố Kiểm soát nhận thức hành vi
5.2.3.3. Hàm ý quản trị Yếu tố Thái độ
5.2.3.4. Hàm ý quản trị Yếu tố Tính dễ sử dụng
5.2.3.5. Hàm ý quản trị Yếu tố Lợi ích nhận thức

5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Chia Sẻ Tri Thức

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, việc chia sẻ tri thức trực tuyến trở thành một nhu cầu cấp thiết. TPHCM, với vai trò là trung tâm kinh tế của Việt Nam, đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chia sẻ tri thức. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố tác động đến ý định chia sẻ tri thức của lực lượng lao động quản lý ở ngưỡng tuổi về hưu. Các yếu tố này bao gồm thái độ, kiểm soát nhận thức hành vi, tính dễ sử dụng, lợi ích nhận thức và nhận thức rủi ro dịch bệnh.

1.1. Ý Nghĩa Của Việc Chia Sẻ Tri Thức Trong Thời Kỳ COVID 19

Chia sẻ tri thức không chỉ giúp duy trì sự kết nối giữa các thế hệ mà còn tạo ra giá trị cho xã hội. Trong thời kỳ dịch bệnh, việc này càng trở nên quan trọng khi nhiều người phải làm việc và học tập từ xa.

1.2. Tình Hình Chia Sẻ Tri Thức Tại TPHCM

TPHCM đã áp dụng nhiều biện pháp để khuyến khích việc chia sẻ tri thức trực tuyến. Các nền tảng công nghệ thông tin đã được sử dụng để kết nối người lao động với nhau, đặc biệt là trong bối cảnh giãn cách xã hội.

II. Các Thách Thức Trong Việc Chia Sẻ Tri Thức Trực Tuyến

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc chia sẻ tri thức trực tuyến cũng gặp phải không ít thách thức. Những rào cản này có thể đến từ nhận thức của người dùng, sự thiếu hụt kỹ năng công nghệ, và đặc biệt là nhận thức về rủi ro dịch bệnh.

2.1. Rào Cản Tâm Lý Trong Chia Sẻ Tri Thức

Nhiều người lao động ở ngưỡng tuổi về hưu có thể cảm thấy không tự tin khi sử dụng công nghệ mới. Điều này ảnh hưởng đến ý định chia sẻ tri thức của họ.

2.2. Nhận Thức Về Rủi Ro Dịch Bệnh

Nhận thức về rủi ro dịch bệnh có thể làm giảm ý định chia sẻ tri thức. Người lao động có thể lo ngại về việc tiếp xúc với người khác hoặc việc sử dụng các nền tảng trực tuyến không an toàn.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Để Đánh Giá Yếu Tố Ảnh Hưởng

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để thu thập dữ liệu. Các công cụ khảo sát được thiết kế để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chia sẻ tri thức.

3.1. Thiết Kế Khảo Sát

Khảo sát được thiết kế với các câu hỏi liên quan đến thái độ, kiểm soát nhận thức hành vi, và các yếu tố khác. Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê như phân tích nhân tố và hồi quy. Điều này giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và ý định chia sẻ tri thức.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ý Định Chia Sẻ Tri Thức

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhận thức rủi ro dịch bệnh có tác động mạnh nhất đến ý định chia sẻ tri thức. Các yếu tố khác như kiểm soát nhận thức hành vi và thái độ cũng có ảnh hưởng đáng kể.

4.1. Tác Động Của Nhận Thức Rủi Ro

Nhận thức rủi ro dịch bệnh đã làm giảm ý định chia sẻ tri thức. Người lao động cảm thấy không an toàn khi chia sẻ thông tin trong bối cảnh dịch bệnh.

4.2. Vai Trò Của Thái Độ

Thái độ tích cực đối với việc chia sẻ tri thức có thể thúc đẩy hành vi này. Những người có thái độ tốt hơn thường có xu hướng chia sẻ nhiều hơn.

V. Hàm Ý Quản Trị Để Tăng Cường Chia Sẻ Tri Thức

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị được đề xuất nhằm gia tăng ý định chia sẻ tri thức. Các tổ chức cần tạo ra môi trường thuận lợi cho việc chia sẻ tri thức.

5.1. Tạo Điều Kiện Thuận Lợi Cho Người Lao Động

Cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho người lao động, đặc biệt là những người ở ngưỡng tuổi về hưu, để họ có thể tự tin hơn trong việc chia sẻ tri thức.

5.2. Khuyến Khích Chia Sẻ Tri Thức Qua Công Nghệ

Các tổ chức nên khuyến khích việc sử dụng các nền tảng công nghệ để chia sẻ tri thức. Điều này không chỉ giúp kết nối người lao động mà còn tạo ra giá trị cho xã hội.

VI. Kết Luận Về Tương Lai Của Chia Sẻ Tri Thức

Chia sẻ tri thức trực tuyến sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tương lai, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh. Các tổ chức cần chú trọng đến việc phát triển các chiến lược để khuyến khích hành vi này.

6.1. Tương Lai Của Chia Sẻ Tri Thức Trong Thời Kỳ Mới

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc chia sẻ tri thức sẽ trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, cần có sự chuẩn bị để đối phó với các thách thức mới.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chia sẻ tri thức, đặc biệt là trong các bối cảnh khác nhau.

15/07/2025
Những yếu tố tác động đến ý định chia sẻ tri thức bằng hình thức trực tuyến trong thời kỳ dịch bệnh covid 19 tại tphcm của lực lượng lao động quản lý ở ngưỡng tuổi về hưu

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 tác giả đã trình bày tổng quan đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu. Những nội dung này sẽ giúp ta có được cái nhìn về tổng quát nội dung để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu các lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết, tổng quan các tài liệu liên quan đến nghiên cứu như các kết quả nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, từ đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm tri thức “Tri thức là quá trình điều chỉnh niềm tin cá nhân hướng tới chân lí” (Nonaka, 1994, trang 15). Nonaka quan niệm rất khác về tri thức, tri thức không chỉ là văn bản hay thói quen, mà nó được xem là một quá trình năng động và liên tục nhằm điều chỉnh niềm tin về chân lý.

Theo Drucker (1994), tri thức được coi là nguồn lực chính của tổ chức nói chung và của mỗi cá nhân nói riêng, được xem là một nguồn tài nguyên khó sao chép, tri thức khác với tiền bạc, con người, vật liệu hay máy móc vì tri thức rất khó để nhân rộng. Davenport và Prusak (1998) cho rằng tri thức là một dạng tổng hợp các kinh nghiệm, giá trị, thông tin về ngữ cảnh và sự hiểu biết một cách chuyên sâu và kết hợp với việc thu nạp thêm kinh nghiệm, thông tin mới. Trong các tổ chức, tri thức không những hàm chứa trong các tài liệu dưới dạng văn bản, kho lưu trữ mà còn hiện diện trong quá trình làm việc, thói quen, các quy trình, thủ tục và các chuẩn mực của tổ chức. Với Alavi và Leidner (2001) thì định nghĩa rằng tri thức là thông tin nằm trong tâm trí của mỗi người và được cá nhân hóa như sự độc đáo, hữu ích, mà chủ yếu liên quan đến sự giải thích, cách đánh giá và lập luận của cá nhân đó.

“Tri thức thường bị nhầm lẫn với thông tin nhưng thực chất tri thức và thông tin là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau” (Grey, 2007). Thông tin tập hợp các dữ liệu cho mục đích xác định rõ ràng, trong khi tri thức được xem là một quá trình, động lực, khả năng chia sẻ sự hiểu biết. Trong thực tế, con người có thể dễ dàng chia sẻ thông tin nhưng rất khó để chia sẻ tri thức đến người khác. Có 2 loại tri thức là tri thức tường minh và tri thức ẩn.

Trong đó, tri thức tường minh có thể ghi chép, chuyển giao thông tin, phân loại, thông qua sự giải thích và các tín hiệu chia sẻ để có thể minh họa cho người khác. Còn đối với tri thức tiềm ẩn thì rất khó để có thể 7 chia sẻ với người khác vì đó là tri thức mà dựa trên sự học tập và kinh nghiệm tích lũy của một người (Bollinger và Smith, 2001). Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức nhưng nhìn chung các học giả đều cho rằng tri thức là kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng, được áp dụng ngay trong tâm trí con người. Tri thức có thể tồn tại dưới dạng dữ kiện, thông tin hay kiến thức được thu nhận từ quá trình đào tạo cũng như kinh nghiệm đúc kết và rút ra từ thực tiễn.2 Khái niệm chia sẻ tri thức Theo Nonaka (1994), chia sẻ tri thức là quá trình trao đổi giữa tri thức ẩn và tri thức hiện của mỗi người mà có liên quan với những người khác trong tổ chức.

Theo nhóm nghiên cứu của Davenport và Prusak (1998) định nghĩa rằng chia sẻ tri thức là quá trình trao đổi tri thức giữa mỗi cá nhân với tổ chức nhằm tạo ra được ý tưởng sáng tạo, đổi mới và tạo ra các mối quan hệ cũng như nguồn lực có giá trị cho tổ chức. Islam và cộng sự (2011), cho rằng chia sẻ tri thức là sự chuyển giao giải pháp hay ý tưởng mới, khi các nhân viên có sự tương tác lẫn nhau, do đó sẽ thúc đẩy việc chia sẻ tri thức từ họ. Bên cạnh đó Bartol và Srivastava (2002), phân loại thêm chia sẻ tri thức là sự trao đổi cái nhìn sâu sắc giữa kinh nghiệm và ý tưởng của những nhân viên trong cùng một tổ chức. Chia sẻ tri thức được coi như một phần của sản xuất tri thức, diễn ra dưới hình thức thảo luận nhóm, cùng nhau xác định vấn đề, giải quyết vấn đề, cùng nhau chia sẻ quan điểm, thông tin và ý kiến để có thể tìm ra giải pháp hiệu quả cho vấn đề (Bakker và cộng sự, 2006).

Nhóm nghiên cứu Wang và Noe (2010) cho rằng chia sẻ tri thức hiệu quả có thể giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường được khả năng đổi mới, do đó giúp tăng hiệu quả của tổ chức. Bên cạnh đó, mở rộng hơn thì ta có thể thấy chia sẻ tri thức là một nền văn hóa tương tác xã hội hiệu quả, mà liên quan đến việc trao đổi kinh nghiệm, kiến thức cũng như kỹ năng của nhân viên với toàn bộ tổ chức (Lin, 2007). Có thể thấy, với nhiều lý thuyết cho ta đa dạng cách tiếp cận khác nhau về hoạt động chia sẻ tri thức. Nhưng nhìn chung, các hoạt động đều có cùng điểm tương đồng là chia sẻ tri thức không chỉ góp phần làm giàu tri thức cho cá nhân mà còn là động lực to lớn cho việc không ngừng phát triển, học hỏi của các cá nhân trong tổ chức và đóng góp quan trọng trong việc phát triển của tổ chức.3 Khái niệm ý định Ý định, theo Ajzen (1991) là các yếu tố động cơ có sự ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, là yếu tố sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi.

Ajzen cũng nhấn mạnh thêm rằng khi con người có ý định hành vi mạnh mẽ hơn, họ sẽ có khuynh hướng thực hiện hành vi cao hơn. Theo Scheer (2004) cho rằng ý định là một trạng thái tinh thần và thường có sức mạnh nhân quả. Theo đó, sự quyết tâm hoặc sự lo lắng, háo hức của một người được xem như những sức mạnh thúc đẩy chúng ta.4 Khái niệm ý định chia sẻ tri thức Theo Bock và cộng sự (2005) ý định chia sẻ tri thức có thể được định nghĩa là mức độ nhận thức của một người về sự sẵn lòng chia sẻ kiến thức của họ. Ý định chia sẻ tri thức của cá nhân sẽ đo lường được mức độ thực sự sẵn sàng của một người đối với việc chia sẻ tri thức với người khác trong tương lai.

Ý định chia sẻ tri thức được hiểu là ý muốn của các cá nhân để thực hiện hành vi chia sẻ tri thức. Và để có thể duy trì lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp thì ý định chia sẻ tri thức đóng vai trò rất quan trọng, là một trong những động lực chính để phát triển khả năng trong việc quản lý tri thức của một tổ chức (Phạm Quốc Trung và Phạm Hùng, 2017).5 Khái niệm ý định chia sẻ tri bằng hình trực tuyến Chia sẻ tri thức bằng hình thức trực tuyến được định nghĩa là quá trình trao đổi kiến thức với sự trợ giúp của công nghệ, chẳng hạn như mạng xã hội, giữa các cộng đồng ảo (Chumg và cộng sự, 2014; Wasko và Faraj, 2005; Zhang và Jiang, 2015). Chia sẻ kiến thức bằng hình thức trực tuyến xảy ra khi kiến thức hoặc thông tin được chia sẻ thông qua Internet trong cộng đồng trực tuyến (Chen và Hung, 2010; Ho và cộng sự, 2012; Hsu và cộng sự, 2007; Liu và cộng sự, 2011). Có nhiều nền tảng để chia sẻ kiến thức trực tuyến, chẳng hạn như các diễn đàn trực tuyến, các phần mềm hoặc thông qua các trang mạng xã hội lớn.

Tất cả các nền tảng này nhằm mục đích cho phép cộng đồng trực tuyến đặt câu hỏi, đưa ra phản hồi, đăng thông tin và tranh luận về các vấn đề hoặc trình bày, chia sẻ các hướng dẫn với mục đích đóng góp và chia sẻ kiến thức (Charband và Navimipour, 2016).6 Khái niệm lực lượng lao động quản lý 9 C. Mác đã định nghĩa quản lý như là “lao động để điều khiển lao động”, xem lao động quản lý là một dạng đặc biệt của lao động sản xuất, tham gia vào trong quá trình sản xuất của xã hội để hoàn thành chức năng quản lý cần thiết. Lao động quản lý thực hiện chức năng quản lý, hay còn được hiểu là lao động của những người trong lĩnh vực quản lý hoặc lao động của những người làm chức năng quản lý. Và hoạt động quản lý được xem là yếu tố bên trong gắn liền với hoạt động của tổ chức, nhằm thực hiện cũng như đạt được mục tiêu chung của tổ chức.7 Lực lượng lao động ở ngưỡng tuổi về hưu Lực lượng lao động ở ngưỡng tuổi về hưu bao gồm lực lượng lao động sắp và đã về hưu với độ tuổi về hưu theo khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 quy định đối với người lao động trong điều kiện lao động bình thường cụ thể như sau:  Kể từ ngày 1/1/2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ.

 Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với lao động nữ cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035 (Người lao động, 2021). Trong đó, ngưỡng tuổi sắp về hưu theo quy định tại Khoản 3, Điều 166 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 thì năm cuối cùng trước nghỉ hưu lao động nam 59 tuổi và lao động nữ 54 tuổi, người lao động được rút ngắn thời gian làm việc bình thường hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.8 Thời kỳ đại dịch Covid-19 Đại dịch COVID-19 là dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV2 và các biến thể của nó đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Khởi nguồn vào ngày 31 tháng 12 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với nhiều trường hợp bị viêm phổi nặng không rõ nguyên nhân. Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu với những cái tên khác nhau đã được tạo ra cho căn bệnh chết người này, với tên gọi đầu tiên là Corona, “vi rút Vũ Hán”, “vi rút Trung Quốc”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Chia Sẻ Tri Thức Trực Tuyến Trong Thời Kỳ COVID-19 Tại TPHCM khám phá những yếu tố chính tác động đến hành vi chia sẻ tri thức trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự tin tưởng, động lực cá nhân và môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích người dùng chia sẻ thông tin trực tuyến. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố này mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà COVID-19 đã thay đổi cách thức chia sẻ tri thức trong cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chia sẻ tri thức của người lao động tại công ty cổ phần lọc hóa dầu bình sơn. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chia sẻ tri thức trong một môi trường doanh nghiệp cụ thể, từ đó giúp bạn có thêm thông tin để hiểu rõ hơn về hành vi chia sẻ tri thức trong các bối cảnh khác nhau.