Tổng quan nghiên cứu

Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngành du lịch Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khách quốc tế bình quân 10,2%/năm và khách nội địa 11,8%/năm, đóng góp 14% vào GDP cả nước vào năm 2016. Hòa cùng xu thế đó, huyện Long Điền thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sở hữu 11 km bờ biển cùng hệ thống 9 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch vụ - du lịch. Trong giai đoạn 2011 - 2016, doanh thu du lịch toàn huyện đã tăng gấp 2,8 lần, từ 103,5 tỷ đồng lên 292,6 tỷ đồng, nâng tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước từ 20,44% lên 44,62%.

Tuy nhiên, thực trạng khai thác du lịch tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn: thời gian lưu trú của du khách ngắn với mức bình quân chỉ 1,64 ngày vào năm 2016, mức chi tiêu khiêm tốn khoảng 0,12 triệu đồng/người/ngày, rác thải ven biển tăng nhanh và thiếu vắng các sản phẩm du lịch đặc trưng. Đặc biệt, thể chế quản lý và cơ chế kết nối giữa chính quyền, doanh nghiệp với cộng đồng dân cư bản địa vẫn còn lỏng lẻo. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để dung hòa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với việc bảo tồn môi trường sinh thái và văn hóa bản địa.

Luận văn xác định mục tiêu trọng tâm là đánh giá thực trạng phát triển, đo lường các yếu tố cấu thành sự hài lòng của cư dân địa phương và đề xuất các hàm ý chính sách đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tại địa bàn huyện Long Điền, thực hiện khảo sát thực tế từ tháng 8/2017 đến tháng 9/2017 trên nhóm cư dân tham gia chuỗi hoạt động du lịch. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương định hình thể chế quản lý, hướng tới việc tăng mức đóng góp của ngành du lịch lên trên 50% tổng thu ngân sách huyện một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai hệ thống lý thuyết nền tảng trong khoa học quản lý và phát triển:

Lý thuyết Trao đổi Xã hội (Social Exchange Theory) của George Homans và Peter Blau xác định rằng sự tham gia và ủng hộ của cư dân đối với các hoạt động phát triển du lịch là kết quả của quá trình đánh giá tương quan giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu về. Khi nhận thức về lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội vượt trội hơn các tác động tiêu cực, mức độ hài lòng và cam kết đồng hành của người dân sẽ gia tăng.

Mô hình Phát triển bền vững 4 trụ cột của Spangenberg và nghiên cứu mở rộng của Cottrell năm 2013 đóng vai trò là khung phân tích trung tâm. Mô hình này mở rộng ba trụ cột truyền thống gồm Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Môi trường bằng việc tích hợp thêm thành tố thứ tư là Thể chế (Institutional framework).

Bên cạnh đó, luận văn vận dụng 4 khái niệm cốt lõi:

  • Phát triển bền vững: Đáp ứng nhu cầu thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai theo Báo cáo Brundtland.
  • Du lịch bền vững: Sự phát triển cân bằng đồng thời các yêu cầu về kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường theo Luật Du lịch năm 2017.
  • Thể chế: Hệ thống quy tắc chính thức, phi chính thức và cơ chế thực thi định hình tương tác giữa các chủ thể theo cách tiếp cận của Douglas North.
  • Sự hài lòng của cư dân: Trạng thái đánh giá tích cực của người dân địa phương đối với chuỗi giá trị và chất lượng cuộc sống do hoạt động du lịch mang lại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng chặt chẽ qua 3 giai đoạn:

Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua thảo luận nhóm tập trung với 2 nhóm đối tượng gồm 8 cán bộ quản lý huyện Long Điền và 7 đại diện doanh nghiệp kinh doanh du lịch, kết hợp phỏng vấn thử nghiệm trên 20 người dân địa phương. Kết quả giúp hiệu chỉnh 27 biến quan sát thuộc 5 thang đo phù hợp với bối cảnh thực địa.

Nghiên cứu định lượng chính thức áp dụng phương thức chọn mẫu thuận tiện phi xác suất với kích thước mẫu n = 310 mẫu hợp lệ thu được từ 330 bảng hỏi phát ra, đạt tỷ lệ phản hồi hiệu dụng 93,93%. Toàn bộ dữ liệu được đo lường bằng thang đo khoảng cách Likert 7 điểm, thu thập từ ngày 05/08/2017 đến ngày 10/09/2017.

Quy trình phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm thống kê chuyên dụng bao gồm: kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (yêu cầu hệ số lớn hơn hoặc bằng 0,6), phân tích nhân tố khám phá EFA để rút gọn biến, phân tích nhân tố khẳng định CFA để kiểm tra giá trị hội tụ và phân biệt. Cuối cùng, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling) được lựa chọn nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Lý do lựa chọn SEM vì phương pháp này cho phép xử lý đồng thời nhiều mối quan hệ phụ thuộc, ước lượng sai số đo lường của các biến tiềm ẩn và kiểm soát hiện tượng đa cộng tuyến tốt hơn các mô hình hồi quy đa biến truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm và thống kê ngành trong giai đoạn 2011 - 2017 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, du lịch tạo động lực kinh tế và chuyển dịch lao động tích cực. Số lượng việc làm ngành du lịch tăng trưởng bình quân 25,1%/năm, từ 1.125 lao động năm 2011 lên 2.545 lao động năm 2016, nâng tỷ trọng việc làm du lịch từ 22,8% lên 37,8% tổng việc làm mới toàn huyện. Sự gia tăng này đóng vai trò quyết định giúp tỷ lệ hộ nghèo tại Long Điền giảm mạnh từ 11,85% năm 2011 xuống chỉ còn 0,6% vào năm 2016.

Thứ hai, hiệu quả khai thác kinh tế trên mỗi lượt khách còn thấp. Mặc dù tổng số ngày lưu trú tăng từ 914 nghìn ngày lên 2.350 nghìn ngày, nhưng số ngày lưu trú bình quân chỉ đạt 1,64 ngày/khách và chi tiêu trung bình năm 2016 chỉ đạt 0,12 triệu đồng/ngày. Khách du lịch nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo trên 90%, trong khi lượng khách quốc tế chi tiêu cao chỉ chiếm dưới 10%.

Thứ ba, sự thiếu hụt chất lượng thể chế và nguồn nhân lực. Thống kê cho thấy có đến 64,9% lao động du lịch (1.455 người) chưa qua đào tạo chuyên môn, trình độ đại học chỉ chiếm 2,1% và cao đẳng chiếm 2,9%. Sự kết nối giữa chính quyền với 58 ấp, khu phố trong việc cung cấp thông tin du lịch và đào tạo kỹ năng nghề còn phân tán.

Thứ tư, kết quả kiểm định mô hình SEM khẳng định cả 4 yếu tố Môi trường, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Thể chế đều tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến Sự hài lòng của cư dân. Trong đó, Thể chế và Kinh tế là hai nhân tố có trọng số tác động hàng đầu đến niềm tin và mức độ sẵn sàng tham gia của người dân bản địa.

Thảo luận kết quả

Thực tế tại huyện Long Điền cho thấy nguồn tài nguyên tự nhiên với hơn 856,7 ha rừng (độ che phủ 10,3%) và 3.203 ha đất nông nghiệp sinh thái đang chịu sức ép từ tình trạng ô nhiễm rác thải mùa cao điểm. Sau mỗi dịp lễ hội Dinh Cô hay cao điểm du lịch biển Long Hải, khối lượng rác thải gia tăng đột biến, buộc chính quyền phải huy động các lực lượng liên ngành xử lý.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Cottrell năm 2013 tại Vườn tự nhiên Frankenwald cũng như công bố của Lê Chí Công và cộng sự năm 2017 tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, khẳng định rằng nhận thức về lợi ích kinh tế phải đi đôi với sự bảo đảm về môi trường và cơ chế chính sách minh bạch. Khi người dân nhận thấy chính quyền hỗ trợ đào tạo và bảo vệ cảnh quan bãi biển, mức độ ủng hộ của họ tăng lên rõ rệt.

Để phục vụ công tác quản trị trực quan, toàn bộ ma trận tương quan giữa 5 biến tiềm ẩn và các trọng số hồi quy chuẩn hóa của mô hình cấu trúc SEM nên được trình bày thông qua biểu đồ đường dẫn (path diagram) kết hợp với các bảng thống kê mô tả chỉ số thích hợp CMIN/df, CFI, TLI và RMSEA. Việc trực quan hóa này giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nghẽn về thể chế và chất lượng lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại huyện Long Điền, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý du lịch và cơ chế liên kết ba nhà (Chính quyền - Doanh nghiệp - Cư dân). UBND huyện Long Điền cần chủ trì ban hành Quy chế phối hợp phát triển du lịch cộng đồng trước quý 2/2018. Mục tiêu cụ thể là thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ 6 tháng/lần, đồng thời ban hành chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích các khu nghỉ dưỡng, khách sạn tuyển dụng tối thiểu 50% lao động là người dân địa phương.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch bản địa. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với Sở Du lịch và các cơ sở đào tạo tổ chức 15 - 20 lớp tập huấn nghiệp vụ lữ hành, lễ tân và kỹ năng giao tiếp mỗi năm trong giai đoạn 2018 - 2022. Target metric là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 35,1% lên trên 60% vào năm 2022, trong đó tỷ lệ có chứng chỉ nghề đạt ít nhất 45%.

Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với di sản văn hóa và làng nghề truyền thống. Ban Quản lý các khu du lịch huyện phối hợp cùng Phòng Văn hóa - Thông tin xây dựng chuỗi tour trải nghiệm liên hoàn kết nối di tích cấp quốc gia Dinh Cô, Chùa Long Bàn với các làng nghề bánh tráng An Ngãi, bánh hỏi An Nhứt và nghề đúc đồng Long Điền. Kế hoạch triển khai hoàn tất trong giai đoạn 2018 - 2020, hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân từ 1,64 ngày lên 2,2 ngày và mức chi tiêu đạt 0,35 triệu đồng/khách/ngày.

Thứ tư, thiết lập hệ thống kiểm soát môi trường du lịch và nâng cấp hạ tầng thu gom rác thải. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện chủ trì lắp đặt 100% thùng rác đạt chuẩn phân loại tại các bãi biển Long Hải, Phước Tỉnh và vùng ven sông Cửa Lấp từ năm 2018 đến 2019. Tổ chức các đội tự quản môi trường du lịch tại 58 ấp, khu phố nhằm đảm bảo 100% cơ sở lưu trú và ăn uống tuân thủ quy chuẩn xả thải và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: UBND huyện Long Điền, Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có thể sử dụng hệ thống số liệu thực trạng kinh tế - môi trường cùng khung thể chế 4 trụ cột để xây dựng các đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển và chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2020 - 2030.

  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú và giải trí: Các chủ đầu tư khu du lịch tại Long Hải, Phước Tỉnh tham khảo mô hình chia sẻ lợi ích với cộng đồng để thiết kế các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm làng nghề, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và giảm thiểu xung đột tài nguyên.

  3. Cộng đồng cư dân địa phương và các hợp tác xã làng nghề: Người dân tại các xã An Ngãi, An Nhứt, Tam Phước có thể nắm bắt rõ quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý theo Luật Du lịch 2017, từ đó chủ động thành lập các tổ hợp tác du lịch nông nghiệp, cải thiện sinh kế và nâng cao thu nhập hộ gia đình.

  4. Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Quản lý Kinh tế và Du lịch học có thể kế thừa quy trình nghiên cứu định lượng, bộ thang đo Likert 7 điểm và phương pháp phân tích SEM để mở rộng nghiên cứu tại các địa phương ven biển khác.

Câu hỏi thường gặp

Đóng góp mới cốt lõi của đề tài so với các nghiên cứu trước đây là gì? Đề tài đã đưa thành tố Thể chế vào mô hình thực nghiệm cùng với ba khía cạnh truyền thống là Kinh tế, Xã hội và Môi trường để đo lường sự hài lòng của cư dân tại huyện Long Điền. Kết quả định lượng bằng mô hình SEM chứng minh rằng thể chế và sự hỗ trợ của chính quyền là điều kiện tiên quyết giúp gia tăng sự tham gia bền vững của người dân.

Tại sao nghiên cứu lại chọn kích thước mẫu n = 310 và phương pháp lấy mẫu thuận tiện? Phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (ML) trong phân tích mô hình cấu trúc SEM đòi hỏi kích thước mẫu tối thiểu từ 150 đến 200 quan sát. Mẫu n = 310 đạt tỷ lệ hơn 11 quan sát trên một biến ước lượng (27 biến), đảm bảo độ tin cậy thống kê cao và phù hợp với điều kiện tiếp cận trực tiếp người dân tham gia hoạt động du lịch tại địa bàn 7 xã, thị trấn.

Thực trạng chất lượng lao động du lịch tại Long Điền đang gặp những trở ngại nào? Số liệu thực tế năm 2016 cho thấy có tới 64,9% (1.455 lao động) chưa qua đào tạo bài bản, trình độ đại học chỉ đạt 2,1% và cao đẳng đạt 2,9%. Điều này làm suy giảm chất lượng dịch vụ, thiếu tính chuyên nghiệp trong phục vụ và hạn chế khả năng truyền tải giá trị văn hóa bản địa đến du khách quốc tế.

Du lịch đã góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế huyện Long Điền như thế nào? Ngành du lịch đã tạo ra 2.545 việc làm vào năm 2016 với tốc độ tăng trưởng việc làm 25,1%/năm, chiếm 37,8% tổng số việc làm mới toàn huyện. Nguồn thu này kết hợp với sự phát triển dịch vụ phụ trợ đã trực tiếp kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ 11,85% năm 2011 xuống chỉ còn 0,6% vào năm 2016.

Làm thế nào để dung hòa giữa tăng trưởng lượng khách và bảo vệ môi trường biển? Giải pháp tối ưu là chuyển dịch mô hình từ khai thác tự nhiên thuần túy sang du lịch sinh thái có trách nhiệm. Cần áp dụng quy chuẩn phân loại rác tại nguồn ở 100% bãi tắm Long Hải - Phước Tỉnh, thành lập tổ tự quản cư dân và trích một phần doanh thu du lịch tái đầu tư cho công tác bảo tồn di tích, cảnh quan rừng ngập mặn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch bền vững và chứng minh bằng thực nghiệm vai trò của 4 trụ cột: Kinh tế, Văn hóa - Xã hội, Môi trường và Thể chế đối với sự hài lòng của cư dân bản địa.
  • Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh thực tiễn tại huyện Long Điền: doanh thu du lịch tăng trưởng nhanh đạt 292,6 tỷ đồng năm 2016 nhưng vẫn còn hạn chế về thời gian lưu trú (1,64 ngày) và tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao (64,9%).
  • Mô hình cấu trúc SEM cung cấp bằng chứng khoa học khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước nhằm dung hòa lợi ích kinh tế với bảo tồn di sản văn hóa và bảo vệ tài nguyên sinh thái.
  • Lộ trình hành động giai đoạn 2018 - 2025 cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghề cho lao động bản địa, phát triển chuỗi tour trải nghiệm di tích Dinh Cô kết hợp làng nghề truyền thống và chuẩn hóa hạ tầng bảo vệ môi trường.
  • Các nhà quản lý đô thị, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình để khai thác chi tiết hệ thống thang đo và bộ dữ liệu phân tích phục vụ cho các định hướng phát triển du lịch bền vững.