CHƯƠNG 1 Nội dung chương này nhấn mạnh tầm quan trọng của đề tài thông qua mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp và nội dung nghiên cứu. Đóng góp thêm cho nghiên cứu góc nhìn tổng quan về bố cục của khóa luận. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm 2.
Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm Quy định về TGTK: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng” (Ngân hàng nhà nước, 2018). Đơn giản hơn, “Tiền gửi tiết kiệm là số tiền gửi của các tầng lớp dân cư vào ngân hàng để có thêm một khoản lãi suất nhất định và có thể đảm bảo được khoản tiền được an toàn để đáp ứng cho mục đích tiêu dùng trong tương lai” (Trần Huy Hoàng, 2012). Rose (2001), “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi vào ngân hàng từ những cá nhân mong muốn tích lũy khoản tiền cho mục tiêu hoặc nhu cầu tài chính được dự tính trong tương lai, đồng thời thừa hưởng lãi suất từ chính số tiền gửi này”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của khách hàng cá nhân được gửi vào ngân hàng, được hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.
Theo Tô Ngọc Hưng (2009), “Tiền gửi tiết kiệm là thu nhập cá nhân chưa được chi tiêu của người lao động. Họ gửi vào ngân hàng để tích lũy tiền an toàn và nhận một phần tiền lãi từ số tiền đã gửi”. Như vậy, TGTK là khoản tiền từ những cá nhân gửi vào tài khoản tiết kiệm được mở từ ngân hàng, thông qua sổ tiết kiệm được nhận trực tiếp hoặc trực tuyến, khách hàng được hưởng lãi suất tiền gửi từ ngân hàng theo quy định. Một số loại tiền gửi tiết kiệm Theo Ngân hàng Nhà nước (2018), dựa vào nhiều tiêu chuẩn khác nhau, TGTK được phân thành các loại hình như sau: Loại hình thứ nhất: Căn cứ vào thời hạn gửi tiền (TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn).
8 Loại hình thứ hai: Căn cứ vào loại tiền (TGTK bằng đồng nội tệ và TGTK bằng đồng ngoại tệ). Căn cứ vào thời hạn gửi tiền Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại hình mà sau một khoảng thời gian xác định theo thỏa thuận với ngân hàng thì đến ngày tiền gửi đáo hạn, khách hàng mới có thể rút tiền. Với loại hình này, khách hàng gửi tiền chỉ được một lần gửi tiền vào và một lần rút tiền ra khi đáo hạn, không được phép thêm vào khoản tiền đã gửi, thường khách hàng sẽ chọn gửi tiền tiết kiệm theo loại hình này để được hưởng mức lãi suất cao. Căn cứ vào Thông tư Số: 48/2018/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng (TCTD) quyết định lãi suất TGTK phù hợp với quy định lãi suất tiền gửi trong từng giai đoạn của ngân hàng nhà nước (NHNN).
Vì vậy, theo mục 3 - Điều 9, phương thức trả lãi TGTK thực hiện theo thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng gửi tiền. Phương thức tính lãi: 𝑆ố 𝑡𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 × 𝐿ã𝑖 𝑠𝑢ấ𝑡 (%⁄𝑛ă𝑚) × 𝑠ố 𝑡ℎá𝑛𝑔 𝑔ử𝑖 Số tiền lãi= 12 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là loại hình mà ngân hàng không được khách hàng xác định thời gian đáo hạn cụ thể. “Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, người gửi có thể gửi thêm vào tài khoản tiết kiệm, đồng thời không giới hạn số lần rút tiền, không tất toán sổ tiết kiệm sau khi giao dịch” (Nguyễn Văn Tiến, 2013). So với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn sẽ hưởng mức lãi suất thấp hơn và được ngân hàng trả lãi định kỳ.
Phương thức tính lãi: ∑(𝑆ố 𝑑ư 𝑡ℎự𝑐 𝑡ế × 𝑆ố 𝑛𝑔à𝑦 𝑑𝑢𝑦 𝑡𝑟ì 𝑠ố 𝑑ư 𝑡ℎự𝑐 𝑡ế × 𝐿ã𝑖 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡í𝑛ℎ 𝑙ã𝑖) Số tiền lãi = 365 2. Căn cứ vào loại tiền Căn cứ vào Điều 10 của Thông tư Số: 48/2018/TT-NHNN có nêu rằng: “Tiền gửi tiết kiệm phân loại tiền bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam và Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ”. Việc phân chia loại hình TGTK thành các loại tiền tệ khác nhau thể hiện sự đa dạng của ngân hàng về nguồn TGTK, cũng như tạo cơ hội cho ngân hàng triển khai 9 cấp tín dụng cho khách hàng theo nhiều loại tiền tệ hoặc phục vụ cho những hoạt động kinh doanh tiền tệ khác (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân Tiền gửi tiết kiệm từ KHCN tại ngân hàng thương mại (NHTM) được coi như một khoản đầu tư sinh lời.
Không giống như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay bất động sản, loại hình đầu tư này được cho là an toàn, rủi ro thấp và không tiêu tốn nhiều thời gian, kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra, thông qua TGTK, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ và sản phẩm bổ sung khác của ngân hàng bao gồm các khoản vay, thẻ tín dụng (Nguyễn Minh Kiều, 2013). Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), “Để ngân hàng có thể tiến hành thực hiện kế hoạch kinh doanh thì nguồn tiền gửi tiết kiệm của khách hàng là nguồn vốn quan trọng trong nguồn vốn huy động. Quy mô của tài khoản tiền gửi tiết kiệm là chỉ số để phản ánh vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Khách hàng có xu hướng tin tưởng giao tiền tiết kiệm cho ngân hàng càng nhiều khi danh tiếng và uy tín của ngân hàng càng tốt”. Theo Đặng Thanh Huyền (2013), “Lượng tiền huy động thông qua tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng lớn và quy mô mỗi giao dịch không lớn”. Do đó, những NHTM luôn phải duy trì khoản tiền dự phòng nhằm cung cấp thanh khoản cần thiết cho quyết định rút tiền từ phía khách hàng. Quyết định đến ngân hàng gửi tiền tiết kiệm từ khách hàng còn phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ tiền gửi của chính ngân hàng đó.
Theo Lewis, Robert C. and Boom (1983), “Sự khác biệt giữa kỳ vọng và ấn tượng của người tiêu dùng về dịch vụ cũng có thể được gọi là chất lượng dịch vụ. Người tiêu dùng sẽ không hài lòng với chất lượng và kết quả là họ cũng sẽ không hài lòng với chất lượng dịch vụ nếu kỳ vọng cao hơn hiệu suất dịch vụ”. Đối với nền kinh tế, thông qua việc khách hàng đến ngân hàng gửi tiền tiết kiệm, chất lượng sử dụng vốn của ngân hàng sẽ tốt hơn do có được nguồn vốn đáng kể đáp ứng công tác cấp tín dụng, hỗ trợ và giúp nền kinh tế quốc gia đi lên.
Bên cạnh 10 đó, ngân hàng cần chú ý về lãi suất tiền gửi, hình ảnh thương hiệu và uy tín nhằm nâng cao tính cạnh tranh giữa những NHTM trong nước và quốc tế. Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ 2. Sự hài lòng của khách hàng Một thành phần quan trọng bậc nhất và được xem như một thước đo chính xác về hiệu quả dịch vụ là SHL từ khách hàng. Ali và cộng sự (2016), “Các nghiên cứu về sự hài lòng hầu hết dựa trên nhiều định nghĩa khác nhau quay quanh những ý tưởng khái niệm như: sự trải nghiệm hoặc chất lượng của dịch vụ được cảm nhận, sự kỳ vọng, giá trị cảm nhận được và kết quả của quá trình so sánh dịch vụ.
Do đó, sự hài lòng của khách hàng dựa trên cảm xúc của họ đang và sau một quá trình sử dụng một sản phẩm, dịch vụ”. Kotler và Keller (2006) cho rằng “Cảm giác có được từ việc so sánh nhận thức với mong đợi của một người đối với kết quả nhận được, họ sẽ cảm thấy hài lòng”. Terrence Levesque và Gordon H.G McDougall (1966) thì lại cho rằng “Những tính từ như “thích thú”, “thỏa mãn” hay “vui mừng” phản ánh sự cảm nhận một cách hài lòng từ khách hàng sau khi dùng những sản phẩm, dịch vụ từ nhà cung cấp”. Theo nghiên cứu Oliver (1985) cho thấy rằng “Khi mong muốn của người tiêu dùng được thỏa mãn, họ cảm thấy hài lòng”.
Theo định nghĩa này, sự thỏa mãn chính là sự hài lòng của người tiêu dùng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ vì nó phục vụ được nhu cầu của họ, bao gồm mức độ hài lòng cả trên và dưới mức mục đợi. Kano (1984) đã phân tích ra 3 cấp độ nhu cầu đều có trên từng khách hàng như sau: Thứ nhất: Nhu cầu cơ bản: đây là loại nhu cầu được xem như hiển nhiên, hầu như không có biểu hiện từ khách hàng, khả năng cao sẽ không hài lòng nếu đáp ứng loại hình nhu cầu này. Thứ hai: Nhu cầu biểu hiện: đây là loại nhu cầu mà sở thích, nhu cầu cùng sự mong đợi được khách hàng truyền đạt lại từ chính họ, giữa SHL của khách hàng và loại hình này khi được hoàn thành có sự tuyến tính. 11 Thứ ba: Nhu cầu tiềm ẩn: đây là loại nhu cầu thường khách hàng không cần hoặc không chú ý hay đòi hỏi nhiều đến, nhưng nếu nhà cung cấp dịch vụ đáp ứng được thì mức độ của SHL từ khách hàng sẽ được tăng cao.
So sánh giữa CLDV thực tế cùng sự mong đợi ban đầu có mức độ chênh lệch nhất định, được chia làm 3 thang đo của Kotler (2000) như sau: Thứ nhất: Không hài lòng: mức độ hài lòng của khách hàng thấp hơn nhiều so với sự mong đợi. Thứ hai: Hài lòng: mức độ hài lòng của khách hàng bằng với sự mong đợi. Thứ ba: Rất hài lòng: mức độ hài lòng của khách hàng lớn hơn sự mong đợi. Phân loại sự hài lòng của khách hàng Khách hàng một khi đã dùng dịch vụ sẽ thường xuyên đánh giá chất lượng trải nghiệm họ nhận được, bày tỏ SHL hoặc không hài lòng.
Luôn có những cuộc thảo luận từ khách hàng với gia đình, người thân, đồng nghiệp, sau đó sẽ bình luận tích cực hoặc tiêu cực về sản phẩm. Về phía nhà cung cấp dịch vụ, nếu đáp ứng được kỳ vọng của khách hàng về chất lượng hàng hóa, giá cả thì chắc chắn khách hàng sẽ ủng hộ tiếp tục sử dụng dịch vụ đến từ nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ này. Mặt khác, khi khách hàng không được thỏa mãn sự mong đợi thì sẽ khiếu nại và đổi nhà cung cấp dịch vụ trong tương lai. SHL có mức độ ảnh hưởng đến nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ rất lớn và được chia thành 3 loại hình: Thứ nhất: Hài lòng tích cực: đây là sự hài lòng của khách hàng mang tính tích cực khi cảm thấy thật sự hài lòng với cung cấp sản phẩm, dịch vụ.