Chương 1, nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo sát hỗn hợp (kết hợp giữa phương pháp khảo sát định tính và định lượng). Qua đó, nghiên cứu định tính nhằm xây dựng một mô hình nghiên cứu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tạo ra thang đo (bản thảo) các khái niệm nghiên cứu trong mô hình nghiên cứu đề xuất. -6- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2.1 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh 2.1Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh không chỉ là môi trường thúc đẩy cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, mà còn nâng cao năng suất lao động, làm cho các doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả hơn mà còn góp phần vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, khái niệm cạnh tranh được thể hiện khác nhau tùy theo thời đại và cách tiếp cận của tác giả.
Smith (1776) đề xuất rằng, theo lý thuyết kinh tế phương Tây, hoạt động kinh tế có thể hợp tác nhịp nhàng thông qua cạnh tranh và thúc đẩy xã hội phát triển. Cạnh tranh tự do thúc đẩy nỗ lực và sức sáng tạo của mọi người, nâng cao năng suất lao động, tăng quá trình thịnh vượng của quốc gia. Cạnh tranh có quan hệ mật thiết với thị trường, vì cạnh tranh chủ yếu thông qua thị trường và giá cả, cạnh tranh tự do tự điều chỉnh quan hệ cung ứng. Sự phân công lao động tạo ra sự cân bằng giữa cung và cầu trong xã hội mà không cần sự can thiệp của chính phủ.
Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (2002): Cạnh tranh là sự cạnh tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất với nền kinh tế nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, kinh tế và tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, đấu tranh với và vì lợi ích tốt nhất của chính nó. Mục đích của cuộc thi nhằm đạt được lợi ích, quyền lợi tối đa và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của các chủ thể tham gia cuộc thi. Theo Porter (1980), cạnh tranh để giành thị phần. Thực chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình của công ty.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là lợi nhuận trung bình của ngành theo hướng cải thiện đáng kể, có thể dẫn đến hạ giá. Các góc nhìn trên được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng đều có nội dung tương tự nhau. Tác giả xin sơ lược cuộc thi như sau: “Cạnh tranh là sự -7- cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu do các chủ thể đặt ra như giành lấy thị phần, giành được khách hàng… nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận cho chủ thể tham gia vào quá trình cạnh tranh”.2Cấp năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự thể hiện ưu thế của mình so với các sản phẩm của công ty khác. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp được đánh giá thông qua khả năng cạnh tranh về giá và năng lực cạnh tranh ngoài giá.
Năng lực canh tranh ngành được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân thương mại của ngành, cán cân đầu tư ra nước ngoài và cán cân đầu tư từ nước ngoài vào. Năng lực cạnh tranh quốc gia được đánh giá thông qua mức độ và tốc độ tăng của năng suất tổng thể, khả năng thâm nhập của doanh nghiệp vào thị trường quốc tế.3Vai trò của cạnh tranh thị trường Cạnh tranh có vai trò hết sức quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh được coi là động lực thúc đẩy cho sự phát triển không chỉ cho các công ty, quốc gia mà còn của toàn bộ nền kinh tế. Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động cơ phát triển kinh tế làm tăng sản xuất cho xã hội.
Sự cạnh tranh này thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ và thúc đẩy sự đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của thị trường. Cho các công ty: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải không ngừng thay đổi và phát triển sản phẩm tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh đem lại cho người tiêu dùng nhiều giải pháp lựa chọn hàng hóa, giá cả cạnh tranh và chất lượng nổi trội so với các đối thủ cạnh tranh.4Phân loại cạnh tranh thị trường Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể được chia thành nhiều loại: Dựa trên chủ đề cạnh tranh; Căn cứ vào quy mô khu vực kinh tế; Phụ thuộc vào loại cạnh tranh (Cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền); Dựa trên -8- các thủ thuật được sử dụng trong cạnh tranh; Cạnh tranh bình đẳng, cạnh tranh không lành mạnh.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (1997) nêu định nghĩa “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các công ty, ngành, khu vực, quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm bền vững và thu nhập cao trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Porter (1985), Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng với giá trị gia tăng cao, chi phí thấp, năng suất cao và lợi nhuận cao thông qua các quy trình công nghệ độc đáo của chúng tôi.
Từ những khía cạnh khác nhau này, khả năng của một công ty có thể khái niệm theo một cách khác cô đọng hơn: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng thỏa mãn khách hàng của mình so với đối thủ cạnh tranh bằng cách khai thác và tận dụng các lợi thế bên trong và bên ngoài để đạt được các mục tiêu kinh doanh.3 Cơ sở lý thuyết định tính Phương pháp định tính là gì? Nghiên cứu định tính là một phương pháp điều tra nhằm thu thập sự hiểu biết sâu sắc về hành vi con người và những lý do ảnh hưởng đến hành vi này. Phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng khá nhiều trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, không chỉ là khoa học truyền thống mà còn cả nghiên cứu thị trường. Các phương pháp nghiên cứu định tính không chỉ trả lời cho câu hỏi cái gì, ở đâu, khi nào mà còn trả lời cho câu hỏi lý do tại sao và làm thế nào. Do đó, các mẫu nhỏ tập trung thường được sử dụng nhiều hơn hàng loạt mẫu lớn.
Các phương pháp nghiên cứu định tính cơ bản: Các ví dụ về nghiên cứu định tính bên dưới sẽ giúp bạn có góc nhìn tổng quan hơn về phương pháp này. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là một trong những phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhiều nhất. Đây là một phương pháp thu thập thông tin được đánh giá là hiệu quả nhất trong việc cần lấy ý kiến cá nhân hiện nay. Với phương pháp này, các bạn làm nghiên cứu khoa học sẽ lấy được ý kiến, quan điểm, kinh nghiệm của người được phỏng vấn để khai thác, phân tích thông tin này.
-9- Trước khi bắt đầu phương pháp này, người thực hiện nghiên cứu cần lập cho mình một bộ danh sách câu hỏi hướng dẫn người thực hiện phỏng vấn với những câu hỏi “mở” để thu thập thông tin cần thiết nhất. Phương pháp phỏng vấn có các dạng: Phỏng vấn có cấu trúc; Phỏng vấn bán cấu trúc; Phỏng vấn tự do. Phương pháp thảo luận nhóm (phương pháp phỏng vấn nhóm): Thảo luận nhóm được xem là một trong những phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và trong nghiên cứu định tính nói chung. Phương pháp này cho phép người tham gia phỏng vấn thể hiện ý kiến của họ và thảo luận một cách tích cực để đưa ra ý kiến thống nhất với vấn đề đặt ra.
So với phương pháp phỏng vấn chuyên sâu lấy ý kiến đánh giá từ cá nhân thì thảo luận nhóm lại có thể thu được kết quả mang tính đa chiều dưới nhiều góc độ tập thể, nhóm. Phương pháp nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu tình huống là phương pháp cho phép tìm hiểu, đánh giá một cách toàn diện và có chiều sâu về đối tượng nghiên cứu. Các tình huống nghiên cứu thường là các vấn đề xã hội, một quy trình làm việc, các sự kiện, hay một tổ chức, một cá nhân,….Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các ngành khoa học như xã hội học, luật học, tâm lý, marketing, kinh doanh, giáo dục,…Có 5 cách nghiên cứu tình huống thường dùng như: Nghiên cứu tình huống nhất thời; Nghiên cứu tình huống trường kỳ; Nghiên cứu tình huống trước – sau; Nghiên cứu tình huống hỗn hợp; Nghiên cứu tình huống so sánh. Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu trực tiếp từ đối tượng quan sát, người quan sát kết hợp với phương pháp thu thập dữ liệu trực tiếp từ đối tượng khảo sát để có được những kết quả cao.
Đối tượng quan sát rất đa dạng, có thể là một cá nhân, một nhóm người, một đơn vị, một sự kiện xã hội … Các hình thức thường dùng trong phương pháp quan sát như: - Quan sát có tham gia: Phương pháp này đòi hỏi người quan sát cần có thời gian sống nhất định cùng môi trường với đối tượng quan sát. Thông thường quan sát có tham gia được tiến hành trong thời gian dài và liên tục. - Quan sát không tham gia: Là phương pháp mà người quan sát không trực tiếp tham gia trong môi trường quan sát hay nhóm đối tượng cần quan sát. Họ quan -10- sát với tư cách người ngoài cuộc.
Quan sát không tham gia có ưu điểm lớn khi quan sát trong phạm vi rộng, lĩnh vực lớn hay nhóm người đông hay cả một cộng đồng dân cư. - Quan sát công khai: Là hình thức quan sát mà nhà nghiên cứu thông báo rõ cho đối tượng được biết về phương pháp mà nhà nghiên cứu đang cần tìm hiểu vấn đề gì, nội dung để làm gì. Với phương pháp này, đối tượng được quan sát biết rõ về mục đích và nội dung của hoạt động quan sát. - Quan sát bí mật: Đây là hình thức quan sát thường hay sử dụng khi thấy các hình thức quan sát công khai khó thu thập được những dữ liệu cần thiết.
Với hình thức quan sát này, đối tượng được quan sát không hề biết về người quan sát và các nội dung quan sát và cùng không biết là mình được quan sát. Phương pháp quan sát bí mật có khả năng đạt được hiệu quả lớn, thu thập được nhiều thông tin khách quan nhưng lại hơi khó khăn trong quá trình thực hiện.