chương 1 Nội dung chương trình bày cơ sở hình thành đề tài; mục tiêu nghiên cứu của đề tài; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn mà đề tài mang lại và cuối cùng là kết cấu của đề tài nghiên cứu. 123doc 8 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, các đặc điểm của sản phẩm và thị trường môi chất lạnh HCFC22 ở Việt Nam, từ đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Thương hiệu David Aaker (1991) cho rằng thương hiệu là một cái tên và/hoặc có sự phối hợp của các yếu tố biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một người bán hoặc một nhóm người bán để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của họ với đối thủ cạnh tranh. Với Philip Kotler (2008), thương hiệu là tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc cách bài trí, hoặc sự kết hợp giữa chúng dùng để nhận ra hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc một nhóm người bán để phân biệt người bán với các đối thủ cạnh tranh.
Trong khi đó, Stephen King (WPP Group, London) cho rằng “sản phẩm là cái được sản xuất tại nhà máy; thương hiệu là cái được tạo ra bởi khách hàng. Một sản phẩm có thể bị sao chép bởi đối thủ cạnh tranh; một thương hiệu là duy nhất. Một sản phẩm có thể nhanh chóng lỗi thời; một thương hiệu thành công là vô tận”. Richard Moore thì tuyên bố “thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, hình ảnh và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí của khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó” (theo Trần Thị Thùy Trang, 2012, trang 9).
Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) thì tổng kết và phân chia thương hiệu thành hai quan điểm chính: (1) quan điểm truyền thống, với quan điểm này thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh 123doc 9 cùng loại; (2) quan điểm tổng hợp, theo quan điểm này, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng và thương hiệu là tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng những giá trị mà họ đòi hỏi. Quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận; chính vì vậy, dần dần thương hiệu đã thay thế cho sản phẩm trong các hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp. Thương hiệu có những thành phần giá trị riêng của nó, Aaker (1991) cho rằng giá trị thương hiệu bao gồm bốn thành phần: (1) nhận biết thương hiệu (brand awareness), (2) các thuộc tính đồng hành của thương hiệu (brand associations), (3) chất lượng cảm nhận (perceived quality) và (4) lòng trung thành thương hiệu (brand loyalty). Keller (1993) lại cho rằng giá trị của thương hiệu chính là kiến thức của khách hàng về thương hiệu đó.
Kiến thức này bao gồm hai thành phần chính (1) nhận biết thương hiệu (brand awareness) và (2) ấn tượng về thương hiệu (brand image). Kiểm định tại thị trường Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002) xác định giá trị thương hiệu gồm bốn thành phần: nhận biết thương hiệu, ham muốn thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu. Tóm lại, thương hiệu là một khái niệm phức tạp, không đơn thuần chỉ là một cái tên. Nghiên cứu về thương hiệu hoặc các nghiên cứu liên quan về các thành phần của giá trị thương hiệu luôn cần thiết với các nhà quản trị ở mọi lĩnh vực trong môi trường marketing hiện đại.
Lòng trung thành thương hiệu của khách hàng 2. Khái niệm về lòng trung thành thương hiệu Như đã đề cập, lòng trung thành là một thành phần quan trọng của giá trị thương hiệu và đóng góp vào sự thành công của một thương hiệu (Aaker, 1991). Cụ thể hóa hơn, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007), căn cứ theo quan điểm của Chaudhuri (1999), cho rằng lòng trung thành của khách hàng đối với một thương hiệu nói lên xu hướng của khách hàng mua và sử dụng một 123doc 10 thương hiệu nào đó trong một họ sản phẩm và lặp lại hành vi này. Một thương hiệu tạo được lòng trung thành của khách hàng càng cao thì lợi nhuận đem lại cho công ty càng lớn, nghĩa là, thương hiệu đó có giá trị càng cao.
Vì vậy mà lòng trung thành thương hiệu của khách hàng là một thành phần của giá trị thương hiệu. Hoàng Thị Phương Thảo và các cộng sự (2010) tổng kết các khái niệm về lòng trung thành thương hiệu theo hai hướng: khía cạnh hành vi và khía cạnh thái độ của khách hàng, trong đó: - Về khía cạnh hành vi, Oliver (1997) cho rằng lòng trung thành thương hiệu như một cam kết sâu sắc và bền vững của khách hàng sẽ mua lại một sản phẩm hay quay lại một dịch vụ ưa thích trong tương lai, mặc dù những ảnh hưởng tình huống và tác động thị trường có khả năng gây ra những hành vi thay đổi bất thường. Sự trung thành với thương hiệu bao gồm lời cam kết của người tiêu dùng sẽ tái mua thương hiệu và có thể được thực hiện bằng việc mua lặp lại một sản phẩm hay dịch vụ. - Về khía cạnh thái độ của khách hàng, Rossister và Percy (1998) cho rằng lòng trung thành thương hiệu được đặc trưng bởi thái độ thiện cảm đối với một thương hiệu và mua lại thương hiệu đó qua thời gian.
Theo Yoo và Donthu (2001), lòng trung thành thương hiệu được định nghĩa là khuynh hướng trung thành với một thương hiệu trọng tâm, được minh chứng bởi ưu tiên tìm mua thương hiệu đó như lựa chọn đầu tiên trong tương lai. Tóm lại, trong khi định nghĩa lòng trung thành thương hiệu căn cứ theo khía cạnh hành vi nhấn mạnh đến tính trung thành thật sự của khách hàng đối với thương hiệu phản ánh qua lựa chọn mua thì định nghĩa lòng trung thành thương hiệu căn cứ trên khía cạnh thái độ lại đặt trọng tâm ở dự định trung thành của khách hàng đối với thương hiệu đó. Đo lường lòng trung thành thương hiệu Về đo lường lòng trung thành thương hiệu, Huỳnh Phương Linh và Lưu Tiến Thuận (2012) đã tổng kết lòng trung thành thương hiệu được đo lường theo ba cách: 123doc 11 (1) Đo lường theo hành vi thông qua hành vi “mua hàng lặp lại” và bỏ qua các yếu tố tiềm ẩn khác (theo Nodman, 2004). Đo lường theo hành vi hay theo thái độ có những thuận lợi và bất lợi riêng.
Mellens và các cộng sự (1996) cũng đã phân tích những thuận lợi và bất lợi này như bảng 2.1 bên dưới: Bảng 2.1: Những thuận lợi và bất lợi trong việc đo lường lòng trung thành thương hiệu của khách hàng theo hành vi và theo thái độ Những thuận lợi Những bất lợi (1) Việc mua lặp lại không phân biệt với lòng trung thành Đo lường (1) Dựa vào hành vi thực tế thương hiệu theo hành vi (2) Không ngẫu nhiên (2) Nhạy cảm hơn đối với những (3) Dễ dàng thu thập biến thiên trong ngắn hạn (3) Khó để chọn lựa quyết định đúng (1) Việc mua lặp lại được tách ra khỏi lòng trung thành Đo lường thương hiệu (1) Những đại diện có giá trị theo (2) Ít nhạy cảm hơn đối với thực tế là không đảm bảo theo thái độ những biến thiên trong (2) Tính ngẫu nhiên ngắn hạn (3) Khó thu thập (3) Dễ dàng hơn để chọn lựa quyết định đúng (Nguồn: Mellens M. và các cộng sự, 1996, trang 513) 2. Một số nghiên cứu liên quan về lòng trung thành thương hiệu và các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu của khách hàng 123doc 12 Với các nhà nghiên cứu, lòng trung thành thương hiệu và các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu của khách hàng có nhiều cách tiếp cận và đứng trên những quan điểm khác nhau, có thể kể đến những nghiên cứu sau: 2. Nghiên cứu của David Aaker (1991) Aaker (1991) xác định rằng giá trị thương hiệu là tập hợp các tài sản có liên quan đến thương hiệu và bao gồm bốn thành phần: (1) lòng trung thành thương hiệu; (2) nhận biết thương hiệu; (3) chất lượng cảm nhận và (4) các thuộc tính đồng hành của thương hiệu.
Mô hình đo lường giá trị thương hiệu của Aaker được mô tả ở hình 2.1 sau: Nhận biết thương hiệu Chất lượng GIÁ TRỊ Các thuộc tính cảm nhận THƯƠNG HIỆU đồng hành Lòng trung thành thương hiệu Hình 2.1: Mô hình đo lường giá trị thương hiệu của Aaker (1991) (Nguồn: Trần Thị Thùy Trang, 2012, trang 14) Trong đó: - Nhận biết thương hiệu nói lên khả năng một người tiêu dùng có thể nhận dạng hoặc gợi nhớ những đặc điểm của một thương hiệu trong một tập hợp các sản phẩm có mặt trên thị trường. - Các thuộc tính đồng hành thương hiệu như một tên địa phương, một nhân vật gắn liền với thương hiệu, bằng sáng chế, nhãn hiệu cầu chứng, mối quan hệ với kênh phân phối… Các thuộc tính đồng hành thương hiệu tạo nên giá trị cho công ty và khách hàng bằng cách truyền tải những thông tin, giá trị khác biệt của thương hiệu, tạo nên thái độ và cảm 123doc 13 nhận tích cực ở khách hàng; từ đó, khách hàng sẵn sàng mua và mua nhiều hơn thương hiệu đó. - Chất lượng cảm nhận thể hiện nhận thức của khách hàng về chất lượng liên quan đến sản phẩm mà họ nhận được và kỳ vọng. Chất lượng cảm nhận tạo nên những giá trị bổ sung cho thương hiệu.
- Lòng trung thành thương hiệu được cho là trái tim của giá trị thương hiệu, được định nghĩa như một cam kết sâu sắc ở phía khách hàng sẽ mua hoặc sử dụng lại một thương hiệu nào đó trong tương lai. Như vậy, kết quả từ mô hình nghiên cứu của Aaker cho thấy, lòng trung thành thương hiệu là một thành phần bên cạnh các thành phần khác bao gồm nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận và các thuộc tính đồng hành để tạo nên giá trị của một thương hiệu. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002) Một trong những mục tiêu của nghiên cứu này là hai tác giả muốn giúp các nhà quản trị có thêm cơ sở để xây dựng và đo lường giá trị các thương hiệu ở một thị trường khá năng động như thị trường Việt Nam.