chương 1 tác giả đã trình bày tóm tắt các vấn đề cần nghiên cứu cũng như cách thức nghiên cứu mà tác giả sẽ thực hiện trong bài khoá luận này. Tác giả đã đặt ra các vấn đề cơ bản của đề tài cụ thể như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, cách thức nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những hàm ý chính sách. Đây được xem là tiền đề để hoàn thành những chương tiếp theo một cách hợp lý. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan về Ngân Hàng Thƣơng Mại Cổ Phần 2.1 Khái niệm Theo Đỗ Anh Tuấn (2017), ngân hàng thương mại cổ phần là "một doanh nghiệp kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần, được thành lập với mục tiêu tạo ra lợi nhuận cho cổ đông thông qua việc thu nhập doanh thu từ các hoạt động tài chính như cho vay, huy động tiền gửi, mua bán ngoại tệ và các sản phẩm tài chính khác".
NHTMCP cũng có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Nhà nước về các hoạt động tài chính, đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ những lợi ích của khách hàng.2 Chức năng Theo Lê Xuân Nghĩa (2005), ngân hàng thương mại cổ phần có các chức năng chính sau: “Cung cấp dịch vụ tài chính: Ngân hàng thương mại cổ phần cung cấp các dịch vụ tài chính như cho vay tiền, mở tài khoản thanh toán, cấp thẻ tín dụng, thu hộ và chuyển khoản tiền tệ. Những dịch vụ này giúp khách hàng quản lý tài chính cá nhân hoặc doanh nghiệp của họ một cách hiệu quả. Tạo ra lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Ngân hàng thương mại cổ phần kiếm được lợi nhuận từ việc cho vay tiền và tính phí dịch vụ tài chính. Điều này giúp ngân hàng duy trì hoạt động và phát triển.
Quản lý rủi ro tài chính: Ngân hàng thương mại cổ phần phải quản lý rủi ro để đảm bảo tính ổn định của ngân hàng. Việc này bao gồm kiểm soát nợ xấu, phân bổ rủi ro và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý. 7 Tư vấn đầu tư: Ngân hàng thương mại cổ phần có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn đầu tư cho khách hàng. Điều này giúp khách hàng hiểu rõ hơn về các sản phẩm đầu tư và đưa ra quyết định đầu tư thông minh.
Tài trợ cho doanh nghiệp: Ngân hàng thương mại cổ phần có thể cung cấp khoản tài trợ để giúp doanh nghiệp phát triển. Khoản tài trợ này có thể được sử dụng để mua thiết bị, mở rộng hoạt động kinh doanh (HĐKD) hoặc bảo trì cơ sở vật chất của doanh nghiệp. Những chức năng này giúp ngân hàng thương mại cổ phần đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính cho khách hàng và phát triển kinh tế đất nước.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân Hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Theo Trần Huy Hoàng (2010), NHTMCP có 3 nghiệp vụ chính bao gồm: Nghiệp vụ nguồn vốn: Đây là hoạt đóng chính nhằm tạo nên nguồn vốn hoạt động chính của NHTMCP. Trong nghiệp vụ này bao gồm: Nghiệp vụ vốn chủ sở hữu, nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ hình thành nguồn vốn khác.
Trong đó hoạt động quan trọng nhất là huy động vốn, hoạt động này nhằm đảm bảo nguồn vốn để cho vay và phục vụ hoạt động thanh toán. Có nhiều phương thức mà ngân hàng có thể huy động vốn như: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong và ngoài nước; vay vốn của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài; vay vốn ngắn hạn ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn. Nghiệp vụ sử dụng vốn: Để đáp ứng được nhu cầu vốn cho các chủ thể trong nền kinh thể và mang lại mức sinh lợi cho các NHTMCP thì nghiệp vụ này rất quan trọng và bao gồm như sau: Đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản, thiết lập dự trữ, nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ đầu tư. Nghiệp vụ trung gian: NHTMCP với tư cách là một đơn vị trung gian thực hiện thay cho khách hàng một số công việc theo sự ủy nhiệm của khách hàng để 8 được hưởng phí dịch vụ như dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, đại lý,.2 Tổng quan về khả năng sinh lời của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần 2.1 Khái niệm Theo Sundaram & Varshney (2020), “Khả năng sinh lời (KNSL) của một ngân hàng thương mại cổ phần là khả năng ngân hàng tạo ra thu nhập và kiếm được lợi nhuận một cách bền vững theo thời gian.
KNSL của một NHTMCP phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm mô hình kinh doanh, hồ sơ rủi ro, điều kiện thị trường và môi trường pháp lý. Các NHTMCP tạo ra lợi nhuận chủ yếu thông qua các hoạt động cho vay của họ, bao gồm việc cung cấp các khoản vay và tạm ứng cho người đi vay với lãi suất cao hơn chi phí tài trợ của họ. Ngoài ra, họ cũng có thể kiếm thu nhập từ các dịch vụ tính phí như duy trì tài khoản, sử dụng máy ATM và chuyển khoản ngân hàng,. Các ngân hàng cũng có thể tham gia vào các HĐKD và ngân hàng đầu tư để tạo ra lợi nhuận.
Tuy nhiên, lợi nhuận của một ngân hàng phải chịu nhiều rủi ro khác nhau, chẳng hạn như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Do đó, thực hành quản lý rủi ro hiệu quả là điều cần thiết để đảm bảo lợi nhuận bền vững và thành công lâu dài. Nhìn chung, tiềm năng lợi nhuận của một ngân hàng thương mại được xác định bởi khả năng quản lý các rủi ro này một cách hiệu quả và thích ứng với các điều kiện thị trường thay đổi trong khi vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình.Rose (2002) thì về bản chất NHTMCP cũng được xem như một tập đoàn kinh doanh và sẽ hoạt động với mục tiêu tối ưu hoá lợi nhuận ở trong phạm vi mức độ rủi ro có thể được chấp nhận. Trong đó KNSL là đích đến được các ngân hàng chú trọng hơn cả vì thu nhập càng cao sẽ giúp cho các ngân hàng này có thể bảo toàn được nguồn vốn, khả năng mở rộng thị phần sẽ được tăng cao hơn và vốn đầu tư cũng sẽ được thu hút.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng khả năng sinh lời của Ngân Hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Thông thường để đo lường KNSL của ngân hàng sẽ được thông qua các chỉ tiêu tài chính như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on assets) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity), ngoài ra do đặc thù của ngành ngân hàng vì vậy mà ngoài hai chỉ tiêu tài chính trên còn có tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM).
Ngoài ra còn có lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư (ROI) và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) cũng được một số tác giả lựa chọn làm biến đại diện cho KNSL của ngân hàng. Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) ROA được xem là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ số này được sử dụng để đánh giá hiệu suất hoạt động hay cụ thể hơn là mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của một doanh nghiệp hay ngân hàng. Theo Nguyễn Thị Cành (2009), các ngân hàng có cùng quy mô tài sản, ngân hàng nào có ROA cao chứng tỏ rằng ngân hàng đó có chính sách kinh doanh và đầu tư hiệu quả.
Chỉ số này có thể tính toán với nhiều số đo lợi nhuận, chẳng hạn như lợi nhuận trước và sau dự phòng, lợi nhuận trước và sau thuế và các khoản khác thường. Bên cạnh đó Goddard và cộng sự (2004) còn cho biết, số liệu này có thể được sử dụng để làm rõ hiệu quả quản trị của một ngân hàng đối với quá trình chuyển đổi tài sản sang doanh thu. Chính vì thế mà hiện nay trong các nghiên cứu về KNSL của ngân hàng thì ROA luôn được sử dụng làm thước đo, tiêu biểu như: Syafri (2012), Đoàn Việt Hùng (2016), Kiran Lohano và cộng sự (2019), Deli Yuan và cộng sự (2022), Nguyễn Thanh Phương và Đặng Thị Lan Phương (2022),. Và trong các bài nghiên cứu từ trước tới nay thì ROA luôn được đánh giá cao trong 10 việc đo lường KNSL của ngân hàng vì lý do chính là ROA không chịu tác động bởi các công cụ như đòn bẩy tài chính.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE được xem là chỉ số đo lường KNSL trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Hay nói cách khác thì ROE đo lường khả năng sử dụng vốn hiệu quả của doanh nghiệp và theo lý thuyết thì ROE càng cao thì sử dụng vốn càng có hiệu quả. Theo Nguyễn Thị Cành (2009), ROE là chỉ tiêu dùng để đánh giá suất sinh lời tài chính vì vậy nó được sử dụng để đo lường hiệu quả HĐKD của mỗi ngân hàng. KNSL trên một đồng vốn của ngân hàng càng lớn càng chứng tỏ hiệu suất và hiệu qủa sử dụng đồng vốn trong ngân hàng đó càng cao.
Đối với Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013) họ cho biết, ROE được đánh giá cao hơn ROA vì chỉ số này ngụ ý rằng ban quản lý có hiệu quả trong việc quản lý các cổ đông tài trợ và tạo ra doanh thu cho cổ đông, có nghĩa là cổ đông được hưởng lợi từ vốn của mình đầu tư cho ngân hàng. Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu sử dụng ROE làm thước đo cho KNSL, tiêu biểu như: Athanasoglou và cộng sự (2006), Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013), TS. Nguyễn Thị Thu Hiền (2017), Kiran Lohano và cộng sự (2019), Deli Yuan và cộng sự (2022),. Tuy nhiên nhìn chung thì các nhà nghiên cứu lại đánh giá cao về chỉ số tài chính ROA hơn bởi vì ROE có một nhược điểm chính là chịu sự tác động của đòn bẫy tài chính.