Đặt vấn đề Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trình bày các khái niệm liên quan, các lý luận hình thành cơ sở lý thuyết về động lực phụng sự công - thuyết động lực phụng sự công, tổng quan các nghiên cứu trước về động lực phụng sự công, các yếu tố ảnh hưởng đến động lực phụng sự công. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu được dựa trên phân tích đánh giá mức độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày kết luận và các giải pháp trong việc giúp gia tăng động lực phụng sự công của công chức tại các phường thuộc Thành phố Biên Hòa.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm công chức và công chức cấp xã Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi mỗi quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau. Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chế độ công chức đã ra đời ở các nước tư bản phương Tây, phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nước. Nhân vật trung tâm của chế độ công chức là người công chức nói riêng và đội ngũ công chức nói chung với những tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
Tuy nhiên, do tính đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nước không hoàn toàn thống nhất. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, định nghĩa công chức là “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của nhà nước ở trung ương hay địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được xếp vào ngạch của hệ thống ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ của nhà nước”. Ở Việt Nam, khái niệm công chức cũng được nghiên cứu và hoàn thiện theo sự phát triển của đất nước. Vào ngày 20/05/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh 76/SL về Quy chế công chức, Sắc lệnh này xem như là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm công chức.
Trong Quy chế được ban hành đã xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trên toàn đất nước, theo đó “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ngoài nước”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Trong những năm gần đây, đứng trước thực tiễn phát triển nền hành chính, trước đòi hòi của xu thế phát triển đất nước, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức. Tại Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định rõ “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Có thể nhận thấy, mỗi quốc gia có những quan niệm khác nhau trong xác định đối tượng, phạm vi công chức.
Song nhìn chung đều cho rằng một người trở thành công chức phải thỏa mãn các điều kiện sau: + Là công dân của nước đó; + Được tuyển dụng vào làm việc trong cơ quan công quyền nhà nước; + Được bố trí bổ nhiệm vào một ngạch, một ngành chuyên môn; + Được trả lương từ ngân sách nhà nước; + Được quản lý thống nhất trên cả nước và được điều chỉnh bằng luật riêng gọi là luật công chức. Tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, “công chức cấp xã là công dân Việt Nam tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức cấp xã gồm 07 chức danh sau đây: Kế Toán– tài chính; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 xây dựng và môi trường (đối với xã); Trưởng Công an xã; Chỉ huy Trưởng quân sự Nhìn chung, công chức cấp xã ở nước ta có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, công chức cấp xã được cấp có thẩm quyền tuyển dụng và bố trí công việc thông qua các kỳ thi tuyển công chức và được bổ nhiệm vào ngạch tương ứng với trình độ chuyên môn trong hệ thống hành chính nhà nước với một chức dạnh cụ thể Nếu như cán bộ cấp xã được bầu cử để giữ chức vụ theo nhiệm kỳ thì công chức cấp xã được tuyển dụng thông qua các kỳ thi tuyển công chức để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể trong UBND cấp xã. Công chức cấp xã có 7 chức danh chuyên môn như trình bày ở trên.
Ứng với mỗi chức danh là các nhiệm vụ cụ thể theo luật định. Theo quy định hiện hành, các nhiệm vụ của công chức cấp xã là làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của UBND cấp xã, tham mưu giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật do Chủ tịch UBND cấp xã giao. Thứ hai, công chức cấp xã được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, và được hưởng chế độ nghỉ phép, hưu trí và các chế độ khác có liên quan theo quy định. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định, công chức cấp xã được hưởng lương theo quy định của pháp luật, tiền lương được đảm bảo tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
Công chức cấp xã được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, đồng thời tham gia các chế độ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp với tiêu chuẩn chức danh đang đảm nhiệm và theo quy hoạch cán bộ, công chức. Ngoài ra, họ còn được đảm bảo các quyền khác như quyền được nghỉ ngơi, quyền được thụ hưởng các chính sách ưu đãi về nhà ở và phương tiện đi lại theo luật định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Thứ ba, công chức cấp xã là những người trực tiếp tham mưu thực hiện trực tiếp mang đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, là những người trực tiếp gần dân nhất. Trong hệ thống chính quyền của nước ta thì chính quyền cấp cơ sở là cấp chính quyền thực hiện các nhiệm vụ trực tiếp triển khai các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân.
Và là cầu nối giữa chính quyền cấp cơ sở và nhân dân. Họ là những người tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, trực tiếp triển khai, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân, trực tiếp thực hiện công tác vận nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương và các chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Công chức cấp xã là những người trực tiếp đưa các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Với vai trò là cầu nối giữa nhân dân và chính quyền cấp cơ sở, công chức cấp xã là những người am tường và hiểu rõ được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Họ là nơi để nhân dân bày tỏ những ý kiến, những phản hồi, thắc mắc khiếu nại của mình đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Thông qua đội ngũ công chức cấp xã, người dân sẽ phát huy được quyền làm chủ quả mình được dễ dàng hơn.2 Khái niệm động lực và động lực làm việc Động lực là vấn đề có thể được tiếp cận từ nhiều hướng nhiều hướng như: tâm lý học, quản lý học, hành vi tổ chức, văn hóa tổ chức, v.v… Do vậy, khái niệm này không có một định nghĩa thống nhất. Thuật ngữ động lực có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo Guay và các cộng sự (2010) “Động lực là lý do để thực hiện hành vi”. Hay theo Broussard và các cộng sự (2004) “Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó”.
Như vậy, hai định nghĩa này có nét tương đồng, đó là, tác giả đã đưa ra cách thức để khiến con người hành động hay không hành động đó là tác động vào động lực của người đó. Khi động lực cao thì con người sẽ ra sức hành động để đạt được mục tiêu đã đề ra. Ngược lại, khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 động lực ở mức thấp hoặc không có thì con người sẽ không ra sức phấn đấu để đạt kết quả cao. Theo Greenberg và Baron (2003) thì động lực là một quá trình phản ứng tâm lý tạo ra sự mong muốn, định hướng và duy trì một hành vi nhằm hướng đến đạt một mục tiêu nào đó.