đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng nhƣ giới thiệu sơ lƣợc về phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2: Tổng quan về lý thuyết và thực tiễn. Chƣơng này sẽ trình bày lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan để từ đó xây dựng khung phân tích. Trình bày các khái niệm có liên quan và lựa chọn các biến đại diện cho các khái niệm đƣợc nêu lên ở khung phân tích.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp và dữ liệu nghiên cứu. Nội dung chƣơng trình bày các khái niệm có liên quan và lựa chọn các biến đại diện cho các khái niệm đƣợc nêu lên ở khung phân tích. Đồng thời nội dung chƣơng này cũng trình bày qui trình xử lý, tinh lọc dữ liệu từ bộ khảo sát mức sống dân cƣ Việt Nam năm 2012. Chƣơng 4: Kết quả và thảo luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng này nêu tổng quan chi tiêu y tế, bảo hiểm y tế ở Việt Nam và vùng ĐBSCL Chƣơng này sẽ trình bày quá trình thực hiện chạy mô hình hồi qui trên phần mềm thống kê, phân tích ý nghĩa của các chỉ số trong mô hình kết quả.
Các yếu tố ảnh hƣởng quyết định cá nhân đến chi tiêu cho khám chữa bệnh. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. Chƣơng này sẽ tóm lƣợc các kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu. Từ đó có những kiến nghị chính sách nhằm giảm chi phí KCB và nâng cao sức khỏe.
Ngoài ra, chƣơng này còn đánh giá lại những hạn chế của đề tài. Sau cùng, luận văn cũng đính kèm phần phụ lục để chứng minh chi tiết hơn những kết quả phân tích đã đƣợc trình bày trong các chƣơng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2. Chăm sóc sức khỏe (CSSK) Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó ngƣời cung ứng và sử dụng quan hệ nhau thông qua giá dịch vụ.
Tuy nhiên không giống các loại dịch vụ khác, CSSK có một số đặc điểm riêng (Lê Quang Cƣờng, 2007): Mỗi ngƣời đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu CSSK mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán đƣợc thời điểm mắc bệnh nên ngƣời ta thƣờng gặp khó khăn trong chi trả và các chi phí y tế không lƣờng trƣớc đƣợc. Dịch vụ y tế là một loại hàng hóa mà ngƣời sử dụng (ngƣời bệnh) không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế). Cụ thể khi ngƣời bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc điều trị bằng phƣơng pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định.
Nhƣ vậy, ngƣời bệnh có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó ngƣời chữa cho mình nhƣng không thể chủ động lựa chọn phƣơng pháp điều trị. Mặt khác, do dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền tới tính mạng con ngƣời nhƣng mặc dù không có tiền nhƣng vẫn phải khám chữa bệnh (Lê Quang Cƣờng, 2007). Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cá nhân Nhu cầu CSSK là sự đòi hỏi, sự lựa chọn của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân đối với các dịch vụ y tế vào mục đích chăm sóc sức khỏe hoặc khám chữa bệnh cho bản thân hay ngƣời nhà một cách tự nguyện, phù hợp với điều kiện của họ. Họ sẵn sàng chi trả mức phí sử dụng các dịch vụ y tế cho nhà cung cấp (trung tâm y tế, bệnh viện, cơ sở y tế tƣ nhân, các phòng khám theo yêu cầu v.) Ngƣợc lại các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần đầu tƣ cơ sở hạ tầng, trang bị máy móc, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại để đáp ứng nhu cầu đó.
Nó phản ánh nhu cầu KCB gắn liền với sự phát triển kinh tế và trình độ phát triển của xã hội về mọi mặt. Khi ngành y tế phát triển thì nhu cầu KCB của nhân dân sẽ càng cao và rất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cuộc sống hiện đại ngày càng đƣợc nâng cao kéo theo đó là tỉ lệ số ngƣời mang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo ngày một nhiều. Ngƣời ta dần quan tâm hơn đến sức khỏe của chính bản thân mình và những thành viên trong gia đình.
Mặt khác, ngày nay cùng với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, ngƣời dân đã có ý thức hơn trong việc CSSK cho bản thân và gia đình, khi gia đình có ngƣời ốm đau là họ đã lo lắng và đi KCB bằng hình thức này hay hình thức khác (mua thuốc điều trị, đến trạm y tế xã, đến phòng khám tƣ, đến bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện tƣ nhân v.) tùy theo điều kiện của mỗi hộ gia đình. Nhƣ vậy là nhu cầu KCB của nhân dân trong những năm gần đây ngày càng gia tăng, làm cho tình trạng quá tải các bệnh viện, nhất là các bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ƣơng ngày càng trầm trọng (Trần Đăng Khoa, 2013). Heller (1982) giải thích rằng nhu cầu CSSK bao gồm hai yếu tố cơ bản: yếu tố hành vi và yếu tố sinh lý. Nhu cầu KCB đƣợc điều trị bởi các cơ sở y tế với hy vọng chữa khỏi bệnh.
Nhu cầu KCB bị ảnh hƣởng bởi yếu tố cảm nhận của cá nhân về sức khỏe: tần số bệnh và yếu tố kinh tế làm nền tảng cũng nhƣ bất cứ loại hàng hóa thông thƣờng khác: thu nhập và giá cả thị trƣờng. Tuy nhiên, chi tiêu y tế có tồn tại khác biệt lớn về chất lƣợng của các dịch vụ y tế khác nhau. Điều này, phản ánh vai trò của yếu tố kinh tế (Heller, 1982). Nhu cầu CSSK cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự phổ biến của các loại bệnh ở các vùng khác nhau và nhu cầu riêng biệt của từng bộ phận dân cƣ hay dân tộc (PAHE, 2011).
Hành vi tìm kiếm sử dụng dịch vụ y tế Hành vi tìm kiếm sử dụng dịch vụ y tế là bất kỳ hoạt động đƣợc thực hiện bởi những cá nhân tự cảm thấy mình có một vấn đề về sức khỏe hoặc bị ốm, mục đích tìm kiếm một phƣơng án chữa trị phù hợp (Ward et al, 1997). Khái niệm rộng hơn hành vi tìm kiếm sử dụng dịch vụ y tế trong đó bao gồm các hoạt động để duy trì sức khỏe tốt, ngăn ngừa bệnh tật cũng nhƣ đối phó với bất kỳ sự khởi phát bệnh từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 một tình trạng sức khỏe tốt (WHO, 1995). Hành vi sử dụng dịch vụ y tế cũng bao gồm mô hình niềm tin sức khỏe, đóng góp vào động lực cá nhân trong việc tìm kiếm hành vi sức khỏe (Abraham & Sheeran, 2000). Mô hình hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ y tế Andersen (1995) giới thiệu mô hình hành vi của ông về việc sử dụng dịch vụ y tế từ năm 1968.
Trong ba thập kỷ qua ông đã phát triển mô hình liên tục.1: Mô hình sử dụng dịch vụ y tế của Andersen, 1995 Mô hình bao gồm 4 thành phần chính:. Thứ nhất: các yếu tố môi trƣờng mà các cá nhân sống có ảnh hƣởng đến hành vi sử dụng dịch vụ. Các yếu tố môi trƣờng bên trong hệ thống y tế bao gồm các chính sách y tế, nguồn lực y tế và các tổ chức y tế. Nguồn lực bao gồm vốn, con ngƣời và trình độ chuyên môn của nhân viên, sự sẵn có của thiết bị tại các cơ sở y tế.
Tổ chức bao gồm một hệ thống y tế có đầy đủ nguồn lực và tính sẵn có của dịch vụ y tế. Môi trƣờng bên ngoài bao gồm các yếu tố chính trị và kinh tế ảnh hƣởng đến hệ thống y tế (Andersen, 1995). Thứ hai, các đặc điểm cá nhân bao gồm 3 yếu tố: nhu cầu, nguồn khả năng và tính chất nền. Yếu tố nhu cầu đề cập đến tình trạng sức khỏe hoặc bệnh tật là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nguyên nhân trực tiếp và quan trọng nhất đến việc sử dụng dịch vụ y tế.
Sự cần thiết phải chăm sóc đƣợc phản ánh qua sự cảm nhận của cá nhân thể hiện qua các triệu chứng hoặc những chẩn đoán của cơ sở y tế về mức độ nghiêm trọng của bệnh. Các yếu tố khả năng cho phép mô tả các phƣơng tiện cá nhân sẵn có để sử dụng dịch vụ y tế. Yếu tố khả năng tồn tại trƣớc khi khởi phát bệnh và phản ánh xu hƣớng ngƣời dân tìm kiếm dịch vụ y tế. Yếu tố khả năng của gia đình và cộng đồng có thể tạo điều kiện hoặc hạn chế tiếp cận với sự chăm sóc y tế.
Yếu tố khả năng bao gồm thu nhập, bảo hiểm y tế, nguồn lực y tế, thời gian điều trị. Ví dụ nơi cƣ trú, cho dù một ngƣời sống ở vùng nông thôn hay đô thị cho thấy sự gần gũi về địa lý cũng nhƣ thái độ của địa phƣơng về chăm sóc sức khỏe. Cuối cùng là yếu tố ảnh hƣởng nền mô tả xu hƣớng của cá nhân sử dụng dịch vụ bao gồm đặc điểm nhân khẩu học: tuổi tác, giới tính, quy mô hộ gia đình v.v, tình trạng xã hội: giáo dục, nghề nghiệp, niềm tin: thái độ về giá trị dịch vụ y tế và kiến thức của bác sĩ v. Niềm tin không phản ánh nguyên nhân trực tiếp sử dụng dịch vụ y tế mà nó ảnh hƣởng đến khả năng tìm kiếm dịch vụ y tế.
Yếu tố nền đƣợc tồn tại trƣớc khi khởi phát bệnh (Andersen & Newman, 2005). Thứ ba hành vi sức khỏe bao gồm việc sử dụng dịch vụ y tế thực tế, hành vi chăm sóc cá nhân hoặc sử dụng dịch vụ y tế. Các hình thức sử dụng đƣợc đề cập: tự chăm sóc, sử dụng dịch vụ y tế công hoặc dịch vụ y tế tƣ nhân. Thứ tƣ, kết quả bị ảnh hƣởng bởi việc sử dụng trƣớc đó có 3 loại: nhận thức tình trạng sức khỏe, đánh giá đƣợc tình trạng sức khỏe, hài lòng của ngƣời bệnh.
Nhận thức đƣợc tình trạng sức khỏe liên quan đến việc đánh giá tình trạng sức khỏe của cá nhân, bao gồm các đánh giá chuyên môn. Sự hài lòng của ngƣời bệnh phản ánh mức độ thỏa mãn về dịch vụ y tế. Các mô hình Andersen phân tích có sự khác biệt trong việc sử dụng đƣợc giải thích: việc phân phối dịch vụ đƣợc cho là công bằng bởi các biến nhu cầu và tƣơng quan nhân khẩu học (tuổi, giới tính). Một hệ thống thiếu công bằng đƣợc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 cho là tồn tại với các yếu tố khác ví dụ nhƣ bảo hiểm, thu nhập là những yếu tố dự báo quan trọng nhất của ngƣời đƣợc chăm sóc.