Đặt vấn đề Tham khảo tạp Phỏng vấn chí, sách, các chuyên gia, thảo Xác định đề tài nghiên cứu luận nhóm nghiên cứu Phân tích, nhận dạng yếu tố. Chỉnh sửa thang đo. Lập mô hình chính thức Tiến hành khảo sát. Thu thập kết quả Phân tích kết quả Kết luận Kiến nghị Hình 1.1: Sơ đồ nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ý nghĩa thực tiễn Là tài liệu tham khảo cho các trường trung học phổ thông để có những cải cách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với nhu cầu người học. Giúp cho các nhà quản lý giáo dục có thêm một góc nhìn về chất lượng đào tạo trung học phổ thông hiện nay dựa trên đánh giá của người học, từ đó có những cải cách hợp lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Giúp cho các học sinh đang theo học nhận thấy được những kiến thức mà các học sinh tốt nghiệp chưa được trang bị tốt trong nhà trường, từ đó họ có kế hoạch bổ sung kịp thời trước khi tốt nghiệp trung học phổ thông, chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh của các trường cao đẳng, đại học hoặc các trường đào tạo nghề. Cung cấp một công cụ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh.
Công cụ này có thể áp dụng cho các trường trung học phổ thông ở các khu vực khác của Việt Nam. Bố cục luận văn Đề tài nghiên cứu được chia làm năm chương với nội dung cụ thể như sau: Chương l: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và biện luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về chất lượng đào tạo Karapetrovic và Willborn (1997) xác định chất lượng là "khả năng của một sản phẩm để đáp ứng các yêu cầu quy định". Đối với trường trung học phổ thông, sản phẩm là học sinh, hay chính xác hơn, nó là những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và năng lực tổng thể của học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện của mình.
Hằng (2013) cho rằng đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể. Trong nhiều năm, chất lượng học sinh đậu đại học rất được quan tâm bởi cán bộ quản lý trường trung học phổ thông và người sử dụng lao động. Vì vậy, rất nhiều nghiên cứu điều tra vào chất lượng tốt nghiệp, đảm bảo cho sự thành công tương lai của những học sinh tốt nghiệp. Murray và Robinson (2001) phân loại các kỹ năng yêu cầu của người sử dụng lao động vào ba lĩnh vực: kỹ năng học tập, phát triển cá nhân và kỹ năng doanh nghiệp.
Harvey và Green (1994) xác định năm yếu tố mà mà các trường đại học rất quan tâm ở học sinh tốt nghiệp như kiến thức, khả năng trí tuệ, khả năng giỏi chuyên nghành trong một trường đại học hiện đại, kỹ năng giao tiếp và truyền thông. Hội nghị giáo dục trung học trong thế kỷ 21 tại Paris tháng 10/1998 đã đề ra những yêu cầu mới về năng lực của học sinh tốt nghiệp. Sau năm năm triển khai các hoạt động giáo dục trung học trên thế giới theo những khuyến cáo của Hội nghị Paris, trong báo cáo tổng hợp của UNESCO năm 2003 có phân tích rõ những thay đổi mạnh mẽ về bản chất và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhu cầu của thế giới việc làm, trình bày khái quát các yêu cầu mà trường trung học cần cho học sinh sao cho họ có thể đương đầu với những đòi hỏi của xã hội tri thức. Đó là: Các tiềm năng để học tập, nghiên cứu (academic capacities), các tiềm năng này dựa trên việc đào tạo chuyên môn, nhưng còn bao gồm tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, có năng lực đổi mới tư duy (un-1earn) và học tập (re-1earn) trong suốt cuộc đời; Các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội: tự tin, quyết tâm cao, tôn trọng các giá trị đạo đức, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới; Các kỹ năng sáng nghiệp (entrepreneurial skill) bao gồm các tiềm năng đáp ứng cả việc lãnh đạo và làm việc nhóm, làm chủ công nghệ thông tin.
Ngay từ khi còn đi học, học sinh phải được trang bị, bỗi dưỡng các kỹ năng tự học, đổi mới tư duy giúp người học tự tìm kiếm những kiến thức cần thiết, phục vụ cho việc học, tự bản thân tạo hứng thú trong việc học (Điệp, 2012). Toàn (2011) cho rằng, bên cạnh sự phát triển về trí tuệ, học sinh trung học phổ thông còn phát triển về tự ý thức, các em tự ý thức được về bản thân và môi trường xung quanh. Lứa tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan - hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc cư xử.Học sinh trung học phổ thông quan tâm nhiều nhất đến con người, vai trò của con người trong lịch sử quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm. Tóm lại, chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là một khái niệm rộng lớn khó định nghĩa, khó đo lường và có nhiều cách hiểu khác nhau.
Với mục đích của nghiên cứu này thành công trong chất lượng đào tạo của một trường trung học phổ thông đó chính là chất lượng của học sinh tốt nghiệp trung học. Nói cách khác chất lượng đào tạo của một trường trung học phổ thông đó là những gì mà họ đã trang bị cho học sinh sao cho học sinh có thể đương đầu với những đòi hỏi của xã hội tri thức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chương trình đào tạo Chương trình học bao gồm thiết kế, nội dung, và cấu trúc cơ bản thông qua các thuộc tính khác được phân phối (Fal1ows và Steven, 2000).
Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục. Trong nghiên cứu của Baruch và Leeming (1996) phản ánh tầm quan trọng của chương trình giảng dạy như sau: Chương trình này rất quan trọng cho người học, người sử dụng lao động và trường học. Người học được học những gì sẽ được giảng dạy. Vậy làm thế nào chương trình học có thể được phát triển để đáp ứng nhu cầu của trường trung học và học sinh, và làm thế nào để có thể dự kiến năng lực học sinh tốt nghiệp từ một trường cụ thể.
Các học giả ở một số nước phàn nàn về các giáo trình lỗi thời và phương pháp giảng dạy, với các khóa học không liên quan đến nhu cầu của học sinh. Có một thiếu hụt nghiêm trọng trong sách giáo khoa và tài liệu học tập. Trong bối cảnh đó, có một lần nữa sự cần thiết phải liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức học tập và doanh nghiệp (Cave và MCKeown 1993). Constable và Mc Cormick (1987) cũng kết luận rằng có một tỷ lệ cao nội dung khóa học không liên quan đến nhu cầu ứng dụng trong cuộc sống.
Deutschman (1991), Comer và Haynes (1991) đã chỉ trích chương trình đào tạo chỉ tập trung vào các kỹ năng kỹ thuật mà không chú trọng các kỹ năng giao tiếp, không giảng dạy người học kinh nghiệm lãnh đạo, sự sáng tạo và tinh thần kinh doanh, bỏ qua tầm quan trọng làm việc nhóm, chú trọng lý thuyết - định hướng tập trung hạn hẹp, thiếu quan điểm hội nhập và toàn cầu. Tương tự như vậy, Pesulina (1990), Neelankavil (1994) học sinh cũng cần phải có được các kỹ năng cần thiết và khả năng tích hợp vào chương trình học để được thành công sau khi tốt nghiệp trong công việc ở cấp điển hình, trong các hoạt động kinh doanh, hoặc trong các trường đại học. Điều đó là cần thiết để khuyến khích giao tiếp giữa các trường trung học phổ thông và các trường đại học, các doanh nghiệp. Để đảm bảo rằng học sinh được chuẩn bị để đáp ứng các tiêu chuẩn của nghề nghiệp mà họ muốn được giáo dục, một giáo viên trung học phải biết các tiêu chuẩn này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 là gì và trang bị các kỹ năng cũng như kiến thức căn bản ngay từ khi các em còn học trung học phổ thông.
Điều này cung cấp một động lực quan trọng đối với giáo viên khi thiết kế cả các khóa học, giáo trình giảng dạy và phương pháp giảng. Chương trình giảng dạy phải liên tục được sửa đổi để ở phù hợp với thay đổi bên ngoài và chương trình giảng dạy cần được xem xét như một quá trình phát triển liên tục thay vì một thực thể cố định. Bằng cách tham khảo ý kiến người sử dụng lao động, các tổ chức giáo dục sẽ phát triển chương trình giảng dạy phù hợp hơn, do đó sẽ giúp học sinh phát triển kiến thức và kỹ năng cần thiết từ khi còn học ở bậc trung học phổ thông. Thông qua giao tiếp với người sử dụng lao động, tổ chức trung học có thể tìm hiểu về những điểm mạnh và điểm yếu của học sinh tốt nghiệp của họ cũng như để tìm hiểu về những vấn đề mới nhất trong học tập (Neelankavil, 1994), do đó cải thiện chương trình của họ.
Tại nước ta các chương trình và sách giáo khoa tràn ngập với lý thuyết, không đủ kiến thức về ứng dụng và kỹ năng thực hiện. Một số tổ chức đã theo các chương trình giảng dạy truyền thống được sử dụng trong nền kinh tế kế hoạch tập trung. Những người khác đã cố gắng để thích nghi với chương trình giảng dạy từ các trường trung học phương Tây. Theo Long và Chi (2004) hầu hết các chương trình giảng dạy và nội dung trong tổ chức Việt Nam, bất chấp những thay đổi gần đây, không được cập nhật và bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ.
Tương tự Phú (2001) nhấn mạnh rằng chương trình giảng dạy tại Việt Nam không đa dạng và không liên ngành với các khóa học tự chọn.