CHƯƠNG 1 Luận văn chỉ ra được tổng quan về đề tài nghiên cứu. Quay xung quanh các nội dung: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu (bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể), câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi mà nghiên cứu hướng đến, ý nghĩa của nghiên cứu mang lại và cuối cùng là tóm gọn lại kết cấu của đề tài nghiên cứu. Tổng quan về đề tài nghiên cứu sẽ là tiền đề để triển khai những vấn đề cụ thể ở các chương sau mà luận văn sẽ thực hiện. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về đào tạo Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. Đào tạo gắn liền với quá trình học tập và giảng dạy. Nếu quá trình đào tạo không có giảng dạy thì gọi đó là quá trình tự đào tạo do Học viên tự học tập nâng cao trình độ của mình thông qua các tài liệu sách báo và thực tế hoạt động.
Đào tạo là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Đào tạo là kinh nghiệm học hỏi mà trong đó nó tìm kiếm sự thay đổi vĩnh viễn trong một cá nhân mà sẽ làm tăng khả năng của người lao động khi thực hiện công việc. Decenzo và Stephen P.
Đào tạo là tiếp thu một cách có hệ thống các kỹ năng, quy tắc, khái niệm hay thái độ mà kết quả là giúp cải thiện được hiệu quả làm việc trong một môi trường khác. Đào tạo như một quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Quá trình đó sẽ giúp kiến thức chuyên môn được truyền đạt lại, kỹ năng được phát triển và thái độ phù hợp với tình huống cụ thể. Đào tạo cán bộ một cách cơ bản thường được thực hiện một lần, với thời gian ít nhất phải tương xứng với một năm học và thường được tổ chức chặt chẽ, tập trung.
Đối tượng là những cán bộ chưa được đào tạo cơ bản. Chương trình đào tạo phải đảm bảo cho người được đào tạo có được kiến thức một cách cơ bản, hệ thống để sau đó có thể tiếp tục bổ sung, cập nhật các kiến thức chuyên sâu hơn ở các khóa bồi dưỡng. 8 Văn bản chứng minh hoàn thành khóa học là văn bằng (sơ cấp, trung cấp, cao cấp, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ). Khái niệm về chất lượng -Quan niệm thứ nhất về chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sự việc.
Nói đến chất lượng là nói đến hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo nên cái bản chất của một người, một sự vật, một sự việc. Thứ hai, những phẩm chất, giá trị, những đặc tính đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc ở một thời gian và không gian xác định. Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định tương đối, thay đổi do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan. -Theo tiêu chuẩn ISO 8402, chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.
-Theo tiêu chuẩn ISO 9000:200, chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Khái niệm về chất lượng đào tạo Chất lượng đào tạo bao gồm việc nắm bắt đào tạo và chuyển giao đào tạo. Trên cơ sở này, những thay đổi về hành vi do đào tạo mang lại tại nơi làm việc có thể là một dấu hiệu rõ ràng của chất lượng đào tạo. Khái niệm và đặc điểm CBCCVC cấp xã a) Khái niệm cán bộ, công chức và cán bộ, công chức cấp xã Theo quy định của pháp luật hiện hành, CBCC là những đối tượng được quy định tại Điều 4 Luật cán bộ, công chức.
Ngoài CBCC ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện còn một bộ phận là CBCC cấp xã. Có nhiều quan niệm về CBCC cấp xã, tuy nhiên khái quát lại có hai quan điểm nổi bật: -Theo nghĩa rộng, CBCC cấp xã bao gồm các đối tượng: Cán bộ cấp xã; công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách. 9 -Theo nghĩa hẹp, đó là thuật ngữ để chỉ những người làm việc cho các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp xã bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã. b) Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã CBCC cấp xã là một bộ phận của CBCC được tạo nên từ 2 nguồn chính là bầu cử và tuyển dụng.
Do các tổ chức hành chính nhà nước cócấu trúc thứ bậc, thực hiện các chức năng đa dạng, phức tạp nên CBCC cấp xã cũng có những đặc trưng cơ bản giống các đối tượng CBCC khác, đó là: - CBCC là nhân tố chủ yếu, nhân tố hàng đầu đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan, tổ chức. Đồng thời họ chịu sự ràng buộc theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định do tổ chức đặt ra; - CBCC mang tính Đảng, tính giai cấp rõ rệt và sản phẩm của họ là các quyết định quản lý; CBCC là những người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ; - Đội ngũ CBCC hoạt động mang tính chất ổn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ổn định, liên tục của nền hành chính; họ được bảo hộ bằng quy định “biên chế nhà nước”. Bên cạnh những đặc điểm chung giống như CBCC khác, do đặc thù hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã nên đội ngũ này có những đặc điểm đặc thù: Thứ nhất, hầu hết đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn đều là người địaphương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với người dân tại địa phương đó. CBCC chính quyền cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết các công việc của nhà nước.
Do vậy, xét ở khía cạnh nào đó, CBCC cấp xã bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ. 10 Thứ hai, tính ổn định, liên tục công tác của CBCC cấp xã không giống như CBCC từ cấp huyện trở lên đến Trung ương. Cán bộ chủ chốt được bầu cử ở cấp xã như tổ chức Đảng, Mặt trận tổ quốc, Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ nếu không trúng cử thì việc sắp xếp, bố trí công tác về cơ bản không giống nhưCBCC khác. Khi hết nhiệm kỳ thôi không đảm đương chức danh chủ chốt, số cán bộ đã qua đào tạo, có chuyên môn nghiệp vụ, uy tín và kinh nghiệm được bố trí vào các vị trí khác, được chuyển hướng theo chế độ công chức; số còn lại, do không đủ tiêu chuẩn thì đương nhiên thôi không là cán bộ chuyên trách và không còn được hưởng chế độ như công chức nữa.
Thứ ba, sản phẩm hoạt động của CBCC cấp xã là các quyết định quản lý hành chính có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và cục diện địa phương. Vì vậy đòi hỏi người CBCC phải có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kỹ năng làm việc thuần thục trên lĩnh vực mà họ đảm nhiệm. Thứ tư, CBCC cấp xã của cả nước hiện nay rất đông, tuy nhiên về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối già. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chưa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước ở chính quyền cơ sở.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ CBCC cấp xã chưa cao. Chất lượng đào tạo và đánh giá chất lượng đào tạo Đào tạo sẽ rất có giá trị cho tổ chức nếu nó không được chuyển giao thành năng suất. Do đó, chất lượng đào tạo là thước đo mức độ mà đào tạo đạt được theo kết quả dự định của nó, ví dụ để cải thiện hiệu suất làm việc. Đánh giá chất lượng đào tạo là bước cuối cùng của tiến trình đào tạo nguồn nhân lực.
Đây là bước cuối cùng xem quyết định đào tạo có thực sự chất lượng và xứng đáng với các nguồn lực mà tổ chức bỏ ra để đầu tư. 11 Đào tạo được coi là có chất lượng khi Học viên có thể áp dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học vào trong một công việc cụ thể. Tiến trình của việc đánh giá chất lượng đào tạo: Thực hiện những phân tích về nhu cầu Phát triển những mục tiêu học tập và có thể đo lường được và phân tích sự chuyển giao của đào tạo Phát triển những thước đo đầu ra Chọn một chiến lược đánh giá Lên kế hoạch và thực hiện việc đánh giá Hình 2. Tiến trình đánh giá chất lượng đào tạo Nguồn: James R Davis Ph Ang Adelaide B Davis Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo Theo Kirkpatrick, chất lượng đào tạo được đánh giá trên các tiêu chí sau: Đánh giá sự thỏa mãn: Người tham gia đào tạo có thỏa mãn và thích thú khi tham gia vào Chương trình đào tạo không? Người tham gia sẽ được phát phiếu khảo 12 sát ngay sau khóa học để đánh giá về nội dung Chương trình đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, khả năng ứng dụng những kiến thức đã học vào công việc thực tế.
Dựa trên sự đánh giá (chấm điểm đó: theo thang điểm 1-5 hoặc 1-10) bộ phận đào tạo sẽ đo lường được mức độ thỏa mãn của người tham gia học tập tới đâu để có cơ sở điều chỉnh cho các khóa đào tạo tiếp theo.