Yêu Cầu Bồi Thường Thiệt Hại Trong Tố Tụng Hành Chính Việt Nam

Tìm hiểu về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính Việt Nam. Quy trình, thủ tục và các quy định pháp luật liên quan. Tư vấn từ chuyên gia.

Chuyên ngành

Tố Tụng Hành Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi nghiên cứu khoa học

2022-2023

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1.1. Những vấn đề lý luận về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.1.2. Đặc điểm của yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.1.3. Ý nghĩa của yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.2. Quy định pháp luật về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Việt Nam

1.2.1. Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.2.2. Thời điểm đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại

1.2.3. Phạm vi đối tượng khởi kiện được yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.2.4. Thiệt hại được yêu cầu bồi thường thiệt hại

1.2.5. Thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

1.2.6. Thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1. Thực tiễn thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Việt Nam

2.1.1. Kết quả thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Việt Nam

2.1.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

2.2.1. Hạn chế trong quy định pháp luật về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

2.3. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

2.3.1. Hoàn thiện pháp luật về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính

2.3.2. Các giải pháp khác

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về Yêu cầu bồi thường thiệt hại hành chính 55

Quyền khởi kiện vụ án hành chính là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm bởi hoạt động quản lý nhà nước. Để bảo vệ tốt hơn cho người khởi kiện và người có nghĩa vụ liên quan khi họ phải chịu tổn thất vật chất và tinh thần do hoạt động quản lý nhà nước, chế định yêu cầu bồi thường thiệt hại đã được ghi nhận. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính 1996 quy định: “Người khởi kiện vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại; trong trường hợp này các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật TTDS cũng được áp dụng để giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại”. Sau hơn 7 năm áp dụng Luật Tố tụng hành chính 2015, việc giải quyết các vụ án hành chính nói chung và giải quyết yêu cầu bồi thường cho người dân trong vụ án hành chính còn nhiều bất cập và hạn chế. Cần có nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính Việt Nam.

1.1. Định nghĩa bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính

Theo từ điển Luật học, bồi thường thiệt hại là việc bồi thường bằng tiền mà pháp luật buộc bên vi phạm phải thực hiện đối với bên phải chịu những thiệt hại do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra. Từ đó, có thể kết luận, yêu cầu BTTH trong tố tụng hành chính có nghĩa là đề nghị Tòa án thụ lý và giải quyết về việc cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước phải bù đắp những tổn thất về tinh thần và tài sản do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra.

1.2. Phân biệt BTTH trong TTHC và BTTH trong TTDS

BTTH trong TTHC khác với BTTH trong TTDS. Đây là BTTH do quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri gây ra. Những chủ thể trong các hoạt động trên có những hành vi trái với pháp luật phải khắc phục những tổn thất đã gây ra cho người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

II. Vấn đề và thách thức của yêu cầu bồi thường thiệt hại 58

Thực tiễn sau hơn 7 năm áp dụng Luật Tố tụng hành chính 2015, việc giải quyết các vụ án hành chính nói chung và giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người dân trong vụ án hành chính còn nhiều bất cập và hạn chế. Số lượng vụ án không có yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tổng số vụ án hành chính chiếm số lượng khá lớn. Việc đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại còn chưa đúng thời điểm và đảm bảo tính hiệu quả dẫn đến khả năng được xem xét và giải quyết không cao. Việc xác định không đúng người có trách nhiệm bồi thường làm cho quá trình giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn. Các bất cập trên đã gây nhiều khó khăn trong quá trình đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại của người dân. Những khó khăn trên đã làm hẹp đi khả năng được bồi thường thiệt hại của họ.

2.1. Số lượng vụ án bồi thường thiệt hại hành chính còn ít

Một số lượng lớn vụ án hành chính không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Điều này có thể xuất phát từ tâm lý tránh tranh chấp kiện tụng, ngại phiền phức, hoặc do người dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình. Sự e ngại này dẫn đến việc họ bỏ qua cơ hội được bồi thường cho những tổn thất mà họ phải gánh chịu.

2.2. Xác định sai người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Việc xác định không chính xác người có trách nhiệm bồi thường gây ra nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Điều này đòi hỏi sự cẩn trọng và chính xác trong việc thu thập chứng cứ, xác định đối tượng chịu trách nhiệm và áp dụng pháp luật. Khi xác định sai đối tượng, quá trình giải quyết có thể bị kéo dài, tốn kém và không mang lại kết quả.

III. Hướng dẫn quy trình yêu cầu bồi thường thiệt hại 59

Để thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại hiệu quả trong tố tụng hành chính, người dân cần nắm rõ quy trình và thủ tục. Đầu tiên, cần xác định rõ đối tượng và phạm vi thiệt hại. Tiếp theo, thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh thiệt hại thực tế. Sau đó, chuẩn bị hồ sơ yêu cầu bồi thường và nộp tại cơ quan có thẩm quyền. Cần lưu ý về thời hiệu yêu cầu bồi thường để đảm bảo quyền lợi hợp pháp. “Yêu cầu” theo từ điển tiếng Việt là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”.

3.1. Xác định đối tượng và phạm vi thiệt hại được bồi thường

Phải xác định rõ thiệt hại là gì, có liên quan trực tiếp đến quyết định/hành vi hành chính trái pháp luật hay không. Thiệt hại có thể là vật chất (tài sản bị mất mát, hư hỏng), tinh thần (sức khỏe, danh dự bị xâm phạm), hoặc thu nhập thực tế bị mất. Việc xác định đúng loại và mức độ thiệt hại là cơ sở quan trọng để tính toán mức bồi thường.

3.2. Thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại do hành chính

Cần thu thập đầy đủ các loại giấy tờ, tài liệu, chứng cứ liên quan đến thiệt hại, ví dụ: hóa đơn, chứng từ mua bán, biên bản xác nhận thiệt hại, giấy chứng nhận thương tật, bệnh án, v.v. Các chứng cứ này sẽ giúp chứng minh mức độ thiệt hại thực tế và là cơ sở để tòa án xem xét, chấp nhận yêu cầu bồi thường.

3.3 Nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại đúng hạn

Hồ sơ yêu cầu bồi thường cần được chuẩn bị đầy đủ và chính xác theo quy định. Cần nộp hồ sơ đúng thời hạn quy định để đảm bảo quyền lợi của mình. Trong quá trình nộp hồ sơ, nên giữ lại bản sao có xác nhận của cơ quan tiếp nhận để làm bằng chứng.

IV. Luật sư tư vấn bồi thường thiệt hại hành chính 52

Việc tham khảo ý kiến của luật sư là cần thiết để được tư vấn về quy trình, thủ tục, và các vấn đề pháp lý liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại. Luật sư có thể giúp đánh giá khả năng thành công của vụ việc, thu thập chứng cứ, soạn thảo hồ sơ, và đại diện cho người yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng. Luật sư Phạm Hồng Nhung (2022) đã viết "Bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng theo luật thương mại 2005, NXB Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11".

4.1. Vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính

Luật sư có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân trong tố tụng hành chính. Họ có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tế để giúp người dân hiểu rõ quy định của pháp luật, đánh giá khả năng thành công của vụ việc, và đưa ra các giải pháp pháp lý phù hợp.

4.2. Lựa chọn luật sư yêu cầu bồi thường nhà nước uy tín

Cần lựa chọn luật sư có kinh nghiệm và uy tín trong lĩnh vực tố tụng hành chính, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến bồi thường thiệt hại. Nên tìm hiểu thông tin về kinh nghiệm, chuyên môn, và thành tích của luật sư trước khi quyết định thuê dịch vụ.

V. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại 58

Để nâng cao hiệu quả của chế định yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính, cần hoàn thiện pháp luật về các vấn đề như: phạm vi thiệt hại được bồi thường, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, và cơ chế bảo đảm thi hành quyết định của tòa án về bồi thường thiệt hại. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi của mình.

5.1. Mở rộng phạm vi thiệt hại do quyết định hành chính được bồi thường

Pháp luật cần quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về các loại thiệt hại được bồi thường, bao gồm cả thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần, và thu nhập thực tế bị mất. Cần xem xét mở rộng phạm vi bồi thường đối với các thiệt hại gián tiếp, các chi phí phát sinh do việc khắc phục hậu quả, và các thiệt hại liên quan đến cơ hội kinh doanh.

5.2. Đơn giản hóa thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường cần được đơn giản hóa để giảm bớt gánh nặng cho người dân. Cần rút ngắn thời gian giải quyết, tăng cường tính công khai, minh bạch, và đảm bảo quyền tham gia của người yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết.

5.3 Tăng cường tuyên truyền pháp luật về bồi thường thiệt hại hành chính

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bồi thường thiệt hại để nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi của mình. Các hình thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, và phù hợp với từng đối tượng, địa bàn.

19/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1.1 Những vấn đề lý luận về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính 1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật tố tụng hành chính. Quy định yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại một cách nhanh chóng, thuận lợi. “Yêu cầu” theo từ điển tiếng Việt là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”1. Theo đại từ điển tiếng Việt, “bồi thường” là “đền bù những tổn thất đã gây ra”2.

Điều này, có thể được hiểu theo hướng là một giải pháp khắc phục hậu quả do chính người gây ra tổn thất tạo ra, đồng thời cũng có cách hiểu nó là hình thức đền bù, phạt khắc phục hậu quả của những tổn thất đã tạo ra. Thiệt hại là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”3. Nói cách khác là sự biến đổi tình trạng ban đầu một cách tiêu cực sau khi chịu sự tác động từ một hay nhiều nguyên nhân khác nhau. Như vậy, yêu cầu BTTH là đưa ra yêu cầu với chủ thể gây thiệt hại phải có trách nhiệm bù đắp những tổn thất trên thực tế của chủ thể bị thiệt hại.

Từ đó, có thể kết luận, yêu cầu BTTH trong tố tụng hành chính có nghĩa là đề nghị Tòa án thụ lý và giải quyết về việc cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước phải bù đắp những tổn thất về tinh thần và tài sản do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra. 1 Nguyễn Văn Xô (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, tr 295 2 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ tiếng Việt, Tr45 3 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Tr. 8 Theo từ điển Luật học, “BTTH là việc bồi thường bằng tiền mà pháp luật buộc bên vi phạm phải thực hiện đối với bên phải chịu những thiệt hại do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra”4. Theo tác giả Phạm Hồng Nhung: “Chế tài BTTH là một chế tài mang tính tài sản, việc BTTH chính là bồi thường những tổn thất thực tế bị mất mát do hành vi vi phạm của một bên trong quan hệ hợp đồng”5.

Quan điểm của tác giả Nguyễn Phương Thảo đưa ra “Bồi thường được hiểu là sự đền bù hay bù đắp khi có một giá trị đã bị giảm sút hoặc mất đi trước đó. Mục đích của việc bồi thường là khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc gần nhất với tình trạng ban đầu. Buộc BTTH là một dạng trách nhiệm pháp lý được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật mà các chủ thể có hành vi trái pháp luật phải chịu hậu quả bất lợi”6. Từ đó, quan điểm của nhóm tác giả, thì BTTH được hiểu là: sự bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần của bên gây thiệt hại cho người phải gánh chịu thiệt hại đó.

BTTH là một loại trách nhiệm pháp lý mang tính bắt buộc với những chủ thể đã vi phạm pháp luật. Trong quy phạm pháp luật gồm ba bộ phận, về phần trách nhiệm pháp lý của các cá nhân, tổ chức khi vi phạm được quy định ở phần chế tài. BTTH trong TTHC không chỉ ràng buộc trách nhiệm giữa người có thẩm quyền; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền với người bị thiệt hại mà còn là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của những chủ thể khác trong TTHC. BTTH trong TTHC khác với BTTH trong TTDS.

Đây là BTTH do quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri gây ra. Những chủ thể trong các hoạt động trên có những hành vi trái với pháp luật phải khắc phục những tổn thất đã gây ra cho người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Khi người khởi kiện có thiệt hại đưa ra mong muốn của mình thông qua đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, và yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi cho họ. “Yêu cầu” chính là 4 Từ điển Luật học (1999), tlđđ, NXB Thống kê Hà Nội, tr.

59 5 Phạm Hồng Nhung (2022), Bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng theo luật thương mại 2005, NXB Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11 6 Nguyễn Phương Thảo (2022), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, NXB Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 47 9 mong muốn mà người bị thiệt hại đề nghị tòa án thực hiện để bảo vệ cho họ. Trong vụ án hành chính có yêu cầu BTTH thì yêu cầu chính là lời đề nghị tòa án xem xét giải quyết các thiệt hại mà họ phải gánh chịu.

Như vậy có thể hiểu “yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính là việc người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính đề nghị Tòa án buộc người bị kiện phải đền bù, bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần do các đối tượng khởi kiện vụ án hành chính gây ra”.2 Đặc điểm của yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Thứ nhất, yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trong vụ án hành chính, người bị kiện luôn là cơ quan nhà nước, vì thế khi có yêu cầu BTTH sẽ làm phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước. Nguyên nhân là do người bị kiện thực hiện công vụ với tư cách là Nhà nước, không nhân danh chính mình vì vậy Nhà nước sẽ thực hiện trách nhiệm BTTH. Người gây thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả theo Luật TNBTCNN.

Mặc dù, công chức là người gây thiệt hại, tuy nhiên hành vi thi hành công vụ của công chức được coi là hành vi của Nhà nước, các quyết định của công chức khi thi hành công vụ là quyết định của Nhà nước. Do đó, trong trường hợp người thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân hoặc tổ chức thì Nhà nước phải có trách nhiệm về những thiệt hại đó và cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý người thi hành công vụ thay mặt Nhà nước thực hiện việc bồi thường các thiệt hại đã gây ra7. Việc cơ quan nhà nước thực hiện công vụ xuất phát từ nhiệm vụ mà nhà nước trao cho họ, và họ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và nhân dân. Trong quá trình thực hiện công vụ, sự sai sót luôn có khả năng xảy ra xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Sự thiệt hại này họ phải khắc phục nó, nhưng do họ thực hiện với danh nghĩa nhà nước, nên nhà nước sẽ thay mặt họ bồi thường cho người bị thiệt hại. 7 Chính sách pháp luật thông tin và truyền thông, “Một số phân tích về Khái niệm về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, https://cspl.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138357, ngày truy cập 2/8/2023 10 Khác với vụ án dân sự thì trách nhiệm BTTH là chủ thể nào gây ra thiệt hại. Trong quan hệ dân sự, mối quan hệ giữa các chủ thể là bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí. Các giao dịch dân sự được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, các bên phải tôn trọng quyền và nghĩa vụ được các bên thống nhất.

Trong quá trình thực hiện giao dịch nếu có một bên vi phạm các cam kết trong giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho bên còn lại thì phải chịu trách nhiệm BTTH. Như vậy, trong vụ án dân sự, khi có yêu cầu BTTH thì phát sinh trách nhiệm BTTH của bên vi phạm. Trong giao dịch dân sự, cũng có khả năng xuất hiện chủ thể là cơ quan nhà nước, nhưng khi tranh chấp xảy ra sẽ không phát sinh thủ tục TTHC mà theo thủ tục TTDS. Vì mối quan hệ giữa các chủ thể vẫn là bình đẳng thỏa thuận chứ không phải là quyền uy phục tùng như trong hành chính.

Vì vậy, dù có cơ quan hành chính nhà nước hay không thì trách nhiệm BTTH vẫn là bên vi phạm thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Ngoài ra đối với vụ án hình sự, khi có yêu cầu BTTH của nguyên đơn dân sự thì phát sinh trách nhiệm BTTH của bị cáo và bị đơn dân sự. Trong vụ án hình sự, tồn tại mối quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội. Trách nhiệm BTTH là phần dân sự trong vụ án hình sự.

Một hành vi phạm tội, có thể gây ra những thiệt hại cho đối tượng mà tội phạm hướng đến. Lúc này, người phạm tội và bị đơn dân sự phải có trách nhiệm BTTH cho nạn nhân. Bị cáo trong vụ án hình sự là người thực hiện hành vi phạm tội. Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự có thể là bị cáo, cha, mẹ, người giám hộ đối với bị cáo chưa thành niên.

Khi nguyên đơn dân sự đã có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét trách nhiệm BTTH của hai chủ thể này. Khi so sánh vụ án hành chính, với vụ án dân sự và hình sự, sự khác biệt đầu tiên đó là trách nhiệm BTTH trong vụ án hành chính luôn là nhà nước, còn trong vụ án dân sự và hình sự luôn là chủ thể thường. Điều này xuất phát từ sự khác nhau cơ bản trong các mối quan hệ pháp luật. Hành chính, luôn là giữa nhà nước với chủ thể thường, mối quan hệ giữa họ là quyền uy phục tùng.

Dân sự là chủ thể thường vì nó tồn tại sự bình đẳng của các chủ thể. Hình sự là mối quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, mối quan hệ giữa họ cũng là quyền uy phục tùng, tuy nhiên sự khác biệt là Nhà nước đứng ra chứng minh là họ phạm tội và bắt buộc họ phải BTTH cho người phạm tội. Thứ hai, chủ thể có yêu cầu bồi thường trong Tố tụng hành chính là người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 11 Chủ thể có quyền yêu cầu BTTH trong TTHC hiện nay bao gồm người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ