CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1.1 Những vấn đề lý luận về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính 1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật tố tụng hành chính. Quy định yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại một cách nhanh chóng, thuận lợi. “Yêu cầu” theo từ điển tiếng Việt là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”1. Theo đại từ điển tiếng Việt, “bồi thường” là “đền bù những tổn thất đã gây ra”2.
Điều này, có thể được hiểu theo hướng là một giải pháp khắc phục hậu quả do chính người gây ra tổn thất tạo ra, đồng thời cũng có cách hiểu nó là hình thức đền bù, phạt khắc phục hậu quả của những tổn thất đã tạo ra. Thiệt hại là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”3. Nói cách khác là sự biến đổi tình trạng ban đầu một cách tiêu cực sau khi chịu sự tác động từ một hay nhiều nguyên nhân khác nhau. Như vậy, yêu cầu BTTH là đưa ra yêu cầu với chủ thể gây thiệt hại phải có trách nhiệm bù đắp những tổn thất trên thực tế của chủ thể bị thiệt hại.
Từ đó, có thể kết luận, yêu cầu BTTH trong tố tụng hành chính có nghĩa là đề nghị Tòa án thụ lý và giải quyết về việc cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước phải bù đắp những tổn thất về tinh thần và tài sản do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra. 1 Nguyễn Văn Xô (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, tr 295 2 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ tiếng Việt, Tr45 3 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Tr. 8 Theo từ điển Luật học, “BTTH là việc bồi thường bằng tiền mà pháp luật buộc bên vi phạm phải thực hiện đối với bên phải chịu những thiệt hại do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra”4. Theo tác giả Phạm Hồng Nhung: “Chế tài BTTH là một chế tài mang tính tài sản, việc BTTH chính là bồi thường những tổn thất thực tế bị mất mát do hành vi vi phạm của một bên trong quan hệ hợp đồng”5.
Quan điểm của tác giả Nguyễn Phương Thảo đưa ra “Bồi thường được hiểu là sự đền bù hay bù đắp khi có một giá trị đã bị giảm sút hoặc mất đi trước đó. Mục đích của việc bồi thường là khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc gần nhất với tình trạng ban đầu. Buộc BTTH là một dạng trách nhiệm pháp lý được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật mà các chủ thể có hành vi trái pháp luật phải chịu hậu quả bất lợi”6. Từ đó, quan điểm của nhóm tác giả, thì BTTH được hiểu là: sự bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần của bên gây thiệt hại cho người phải gánh chịu thiệt hại đó.
BTTH là một loại trách nhiệm pháp lý mang tính bắt buộc với những chủ thể đã vi phạm pháp luật. Trong quy phạm pháp luật gồm ba bộ phận, về phần trách nhiệm pháp lý của các cá nhân, tổ chức khi vi phạm được quy định ở phần chế tài. BTTH trong TTHC không chỉ ràng buộc trách nhiệm giữa người có thẩm quyền; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền với người bị thiệt hại mà còn là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của những chủ thể khác trong TTHC. BTTH trong TTHC khác với BTTH trong TTDS.
Đây là BTTH do quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri gây ra. Những chủ thể trong các hoạt động trên có những hành vi trái với pháp luật phải khắc phục những tổn thất đã gây ra cho người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Khi người khởi kiện có thiệt hại đưa ra mong muốn của mình thông qua đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, và yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi cho họ. “Yêu cầu” chính là 4 Từ điển Luật học (1999), tlđđ, NXB Thống kê Hà Nội, tr.
59 5 Phạm Hồng Nhung (2022), Bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng theo luật thương mại 2005, NXB Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11 6 Nguyễn Phương Thảo (2022), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, NXB Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 47 9 mong muốn mà người bị thiệt hại đề nghị tòa án thực hiện để bảo vệ cho họ. Trong vụ án hành chính có yêu cầu BTTH thì yêu cầu chính là lời đề nghị tòa án xem xét giải quyết các thiệt hại mà họ phải gánh chịu.
Như vậy có thể hiểu “yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tố tụng hành chính là việc người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính đề nghị Tòa án buộc người bị kiện phải đền bù, bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần do các đối tượng khởi kiện vụ án hành chính gây ra”.2 Đặc điểm của yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính Thứ nhất, yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Tố tụng hành chính làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trong vụ án hành chính, người bị kiện luôn là cơ quan nhà nước, vì thế khi có yêu cầu BTTH sẽ làm phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước. Nguyên nhân là do người bị kiện thực hiện công vụ với tư cách là Nhà nước, không nhân danh chính mình vì vậy Nhà nước sẽ thực hiện trách nhiệm BTTH. Người gây thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả theo Luật TNBTCNN.
Mặc dù, công chức là người gây thiệt hại, tuy nhiên hành vi thi hành công vụ của công chức được coi là hành vi của Nhà nước, các quyết định của công chức khi thi hành công vụ là quyết định của Nhà nước. Do đó, trong trường hợp người thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân hoặc tổ chức thì Nhà nước phải có trách nhiệm về những thiệt hại đó và cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý người thi hành công vụ thay mặt Nhà nước thực hiện việc bồi thường các thiệt hại đã gây ra7. Việc cơ quan nhà nước thực hiện công vụ xuất phát từ nhiệm vụ mà nhà nước trao cho họ, và họ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và nhân dân. Trong quá trình thực hiện công vụ, sự sai sót luôn có khả năng xảy ra xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Sự thiệt hại này họ phải khắc phục nó, nhưng do họ thực hiện với danh nghĩa nhà nước, nên nhà nước sẽ thay mặt họ bồi thường cho người bị thiệt hại. 7 Chính sách pháp luật thông tin và truyền thông, “Một số phân tích về Khái niệm về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, https://cspl.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138357, ngày truy cập 2/8/2023 10 Khác với vụ án dân sự thì trách nhiệm BTTH là chủ thể nào gây ra thiệt hại. Trong quan hệ dân sự, mối quan hệ giữa các chủ thể là bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí. Các giao dịch dân sự được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, các bên phải tôn trọng quyền và nghĩa vụ được các bên thống nhất.
Trong quá trình thực hiện giao dịch nếu có một bên vi phạm các cam kết trong giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho bên còn lại thì phải chịu trách nhiệm BTTH. Như vậy, trong vụ án dân sự, khi có yêu cầu BTTH thì phát sinh trách nhiệm BTTH của bên vi phạm. Trong giao dịch dân sự, cũng có khả năng xuất hiện chủ thể là cơ quan nhà nước, nhưng khi tranh chấp xảy ra sẽ không phát sinh thủ tục TTHC mà theo thủ tục TTDS. Vì mối quan hệ giữa các chủ thể vẫn là bình đẳng thỏa thuận chứ không phải là quyền uy phục tùng như trong hành chính.
Vì vậy, dù có cơ quan hành chính nhà nước hay không thì trách nhiệm BTTH vẫn là bên vi phạm thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Ngoài ra đối với vụ án hình sự, khi có yêu cầu BTTH của nguyên đơn dân sự thì phát sinh trách nhiệm BTTH của bị cáo và bị đơn dân sự. Trong vụ án hình sự, tồn tại mối quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội. Trách nhiệm BTTH là phần dân sự trong vụ án hình sự.
Một hành vi phạm tội, có thể gây ra những thiệt hại cho đối tượng mà tội phạm hướng đến. Lúc này, người phạm tội và bị đơn dân sự phải có trách nhiệm BTTH cho nạn nhân. Bị cáo trong vụ án hình sự là người thực hiện hành vi phạm tội. Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự có thể là bị cáo, cha, mẹ, người giám hộ đối với bị cáo chưa thành niên.
Khi nguyên đơn dân sự đã có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét trách nhiệm BTTH của hai chủ thể này. Khi so sánh vụ án hành chính, với vụ án dân sự và hình sự, sự khác biệt đầu tiên đó là trách nhiệm BTTH trong vụ án hành chính luôn là nhà nước, còn trong vụ án dân sự và hình sự luôn là chủ thể thường. Điều này xuất phát từ sự khác nhau cơ bản trong các mối quan hệ pháp luật. Hành chính, luôn là giữa nhà nước với chủ thể thường, mối quan hệ giữa họ là quyền uy phục tùng.
Dân sự là chủ thể thường vì nó tồn tại sự bình đẳng của các chủ thể. Hình sự là mối quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, mối quan hệ giữa họ cũng là quyền uy phục tùng, tuy nhiên sự khác biệt là Nhà nước đứng ra chứng minh là họ phạm tội và bắt buộc họ phải BTTH cho người phạm tội. Thứ hai, chủ thể có yêu cầu bồi thường trong Tố tụng hành chính là người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 11 Chủ thể có quyền yêu cầu BTTH trong TTHC hiện nay bao gồm người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.