CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương một gồm ba phần. Phần một làm rõ các khái niệm sử dụng trong đề tài nghiên cứu, và đây cũng chính là những yếu tố then chốt mà dựa vào đó tác giả tiến hành xuyên suốt nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, phần hai – lịch sử nghiên cứu vấn đề được tổng thuật từ các nghiên cứu trước đó nhằm mang lại cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu cùng chủ đề trong và ngoài nước. Cuối cùng là phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu, với những giới thiệu về lịch sử, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và điều kiện văn hóa – xã hội cố gắng phác thảo sơ lược nơi tác giả thực hiện chuyến điền dã dân tộc học.
Chương này đóng vai trò làm nền tảng cho định hướng nghiên cứu ở chương hai và những phân tích ở chương ba. Thao tác hóa các khái niệm và lý thuyết nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu về hoa văn thổ cẩm người Chăm cho thấy những yêu cầu cần làm rõ những cơ sở lý luận vì đây sẽ là nền tảng cho khung phân tích của đề tài. Trước hết là về khái niệm hoa văn và thổ cẩm. Hoa văn là từ Hán – Việt có nghĩa những trang trí, họa tiết thêm vào để đối tượng được đẹp, thu hút hơn.
Thổ cẩm (ethnic textile) thể hiện một loại chất liệu thường được dùng làm trang phục do một số tộc người khác nhau. “Con người”, với Clifford J. Geertz, “không chỉ đơn thuần thể hiện mọi thứ bằng ngôn từ mà họ còn nêu lên tiếng nói bằng những hành động của mình; và đây là điều làm cho cuộc sống (đặc thù) mà họ đang làm chủ mang tính biểu tượng” (Shweder, 2010:10). Dựa trên những điều kiện ban đầu trên, vấn đề lý thuyết về biểu tượng là phương pháp lý luận cho đề tài.
Biểu tượng được cho là một sự tái hiện. Biểu tượng tái hiện nội dung của thế giới mà con người sinh tồn ở đó và biểu tượng cũng tái hiện cách nhìn nhận của con người về thế giới đó. Ortner (1973) cho rằng mỗi nền văn hóa đều có những biểu tượng chủ chốt (key symbols) và, trong những phân tích về văn hóa, biểu tượng chủ chốt được phân loại dựa trên hình thái cơ bản của chúng ở quá trình vận hành trong suy nghĩ và hành động. Từ đó, hai hướng tiếp cận vấn đề về biểu tượng được nêu ra.
11 Thứ nhất, việc phân tích hệ thống văn hóa để phát hiện những yếu tố ẩn bên dưới nhằm tìm kiếm những hình thức hay hình ảnh đặt nền tảng cho sự định hướng tiềm tàng là một hướng tiếp cận, tuy rằng đây là hướng đi ít khi được sử dụng. Cách tiếp cận thứ hai chính là nhà nghiên cứu phát hiện và quan sát những thứ thuộc về mối quan tâm mang tính văn hóa của cộng đồng, và phân tích chúng nhằm tìm kiếm những ý nghĩa. Đây là hướng tiếp cận được áp dụng trong nghiên cứu này để lý giải về ý nghĩa biểu tượng trong mối liên hệ với tôn giáo của hoa văn thổ cẩm người Chăm tại Ninh Thuận. Một cách cụ thể hơn, Sherry B.
Ortner phân tích biểu tượng then chốt theo hai nhóm: biểu tượng khái quát (summarizing symbols) và biểu tượng chi tiết (elaborating symbols). Biểu tượng khái quát “bao hàm trong đó, thể hiện, đại diện cho những những thành viên của cộng đồng theo một cách mang tính xúc cảm mạnh mẽ và không quá khác biệt, những điều mà hệ thống văn hóa”, như một tổng thể, “có ý nghĩa đối với họ” (Ortner, 1973:1339). Trong khi đó, biểu tượng chi tiết “mang đến những phương tiện để thấu hiểu những cảm xúc và ý tưởng phức tạp và không khác biệt, làm cho chúng trở nên dễ hiểu với bản thân thành viên, có thể truyền đạt đến những thành viên khác, và chuyển hóa được vào những hành động mang tính hợp trình tự” (Ortner, 1973:1340). Vì vậy, hai tính chất của biểu tượng chi tiết chính là tính chất nhận thức (conceptual elaborating power), nguồn gốc của các phạm trù giúp nhận thức về trật tự thế giới, và tính chất hành động (action elaborating power), cơ chế để hành động xã hội đạt được kết quả mong đợi.
Phương pháp nghiên cứu biểu tượng, mà Sherry B. Ortner đề cập, khi được hệ thống hóa có thể trở thành một lối dẫn đầy thuyết phục vào việc thấu hiểu những sự khác biệt cũng như sự đa dạng của những nền văn hóa, như điều Sherry B. Ortner kết luận vào cuối bài viết, bởi vì mối quan tâm được đặt vào những phương thức mà các biểu tượng hình thành nên cách hành nhân xã hội nhìn thấy, cảm nhận, và suy nghĩ về thế giới, hay, nói cách khác, những phương thức các biểu tượng vận hành như là những phương tiện của “văn hóa”. “Vậy vốn quý nhất của chúng ta luôn là những biểu tượng của sự định hướng chúng ta trong tự nhiên, trên mặt đất, trong xã hội và trong những điều chúng ta làm: những biểu tượng trong thế giới quan và tiếp cận cuộc sống của chúng ta” (Geertz, 1973a [1966] – dẫn lại từ Trương Huyền Chi, 2006:322).
12 Vì lẽ đó, biểu tượng mang trong mình nhiều chiều kích cần được suy xét, chứ không chỉ là sự thể hiện về mặt hình khối, màu sắc hay đường nét như nhiều công trình đã nhắc đến ở các lĩnh vực nghệ thuật hay kiến trúc. Trong đó, yếu tố văn hóa trong nghiên cứu biểu tượng tạo nên những sắc thái riêng cho các ý nghĩa được đặt vào đó bởi người sáng tạo nên. Ortner (1984), bước chuyển biến mạnh mẽ về mặt lý thuyết của Clifford J. Geertz chính là tranh luận về văn hóa và điều này được thể hiện qua “Tôn giáo như một Hệ thống Văn hóa” (“Religion as a Cultural System”) (Geertz, 1973a).
Ortner nhận định rằng, dưới quan điểm của Clifford J. Geertz, “văn hóa không phải là một thứ gì đó được khóa chặt trong đầu của con người, mà hơn thế, văn hóa được thể hiện trong những biểu tượng phổ quát, những biểu tượng mà qua đó các thành viên của xã hội truyền tải thế giới quan, những định hướng giá trị, đặc tính, và tất cả những điều khác của họ đến với người khác, đến các thế hệ tương lai–và đến với các nhà nhân học” (Ortner, 1984:129). Geertz cho rằng con người thuộc về “mạng lưới ý nghĩa mà họ giăng ra […] văn hóa là những mạng lưới đó, và chính vì vậy sự phân tích văn hóa không phải là một khoa học thực nghiệm tìm kiếm quy luật mà là khoa học diễn giải tìm kiếm ý nghĩa” (Geertz, 1973b:05). Cốt lõi của vấn đề chính là ý nghĩa hàm ẩn đó.
Văn hóa, dưới góc độ của nhân học diễn giải, theo quan điểm của Clifford J. Geertz, “biểu thị một khuôn mẫu được truyền theo lịch sử của ý nghĩa hàm chứa trong những biểu tượng, một hệ thống những ý niệm thừa hưởng được biểu đạt qua các dạng thức biểu trưng, thông qua đó con người giao tiếp, duy trì, và phát triển tri thức của mình về cuộc sống và thái độ đối với cuộc sống” (Geertz, 1973a [1966] – dẫn lại từ Trương Huyền Chi, 2006:310). Do vậy, văn hóa cần được diễn đạt theo đúng những ý nghĩa mà chính văn hóa được tạo dựng và cách diễn đạt như thế nào để chuyển tải thành công những ý nghĩa đó đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc của nhà khoa học. Mục tiêu của quá trình mô tả văn hóa “là nỗ lực nhằm thuyết phục một ai đó ở một nơi nào đó nhìn vào những thứ mà tôi đã bị thuyết phục, bởi những chuyến đi, những quyển sách, những sự chứng kiến, và những cuộc đối thoại, để nhìn vào đó: để có được một niềm thích thú” (Geertz, 1995:61-62).
Trong cách diễn ngôn của nhân học diễn giải, Richard A. Shweder (2010) có quan điểm là, một biểu tượng có thể là bất kỳ thứ gì như là một phương tiện chuyển tải ý nghĩa và sự phân tích mang tính diễn giải chính là nói lên những tiền giả định 13 ngầm ẩn, những ẩn ý, hay là những ý nghĩa (những mục đích, giá trị, và hình ảnh về thế giới) vốn tạo nên hành động hay sự thực hành mà các thành viên của nền văn hóa có thể hiểu được hay cộng đồng có thể diễn giải được trong những bối cảnh nhất định. Có thể thấy, vai trò của những thành viên trong cộng đồng góp nên tiếng nói quan trọng trong quá trình lý giải những ý nghĩa hàm ẩn trong các biểu tượng mà họ đã gửi gắm vào đó thế giới quan và nhân sinh quan của mình. Ở phương diện mang tính nhân học, biểu tượng bao hàm những ý nghĩa về chiều sâu của bản chất mà trên hết là sự phản ánh đặc trưng của tộc người thông qua góc độ của “hành nhân” (actor) – “quan điểm của người bản địa” (the native’s point of view) (Geertz, 1983:58).
Quan điểm đó thể hiện cuộc sống nội tâm của họ (người bản địa), cuộc sống mà Clifford J. Geertz ví như một “bài thơ” (Geertz, 1983:70), và thấu hiểu cuộc sống chính là quá trình lý giải “bài thơ” về “mô hình của” và “mô hình cho” của cộng đồng. Tuy nhiên, “bài thơ” này không đơn giản để có thể diễn giải được, bởi lẽ nghiên cứu văn hóa của cộng đồng – chất liệu làm nên những “bài thơ” đó – là một quá trình thấu hiểu về thế giới của những hành nhân xã hội đó (acting social beings) (Ortner, 1984:130), nơi mà họ tìm thấy chính mình, và chúng ta, tức nhà nghiên cứu, cần đặt mình vào vị trí mà văn hóa được tạo nên. Cách thức để nhà nghiên cứu có thể thực hiện điều đó là thông qua nhãn quan của người sáng tạo nên và thực hành những giá trị văn hóa được trao truyền trong cộng đồng, và điều này cho thấy “quan điểm của người bản địa” là nguồn thông tin chủ đạo của nghiên cứu.
Geertz đã nói rằng “những thông tín viên tuyệt vời tạo nên những nhà nhân học tuyệt vời” (Geertz, 1983:59). Tuy vậy, khi tiến hành công việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, nhà nhân học dễ rơi vào khuynh hướng đặt để trải nghiệm của “hành nhân” vào khung quy chiếu nhận thức của mình, cho nên để đi vào ngọn nguồn của vấn đề nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần tạm gác sang bên những khung quy chiếu đó và nhìn nhận trải nghiệm của “hành nhân” trong chính hệ nhận thức của họ về điều gì chính là bản sắc (xem Geertz, 1983:59). Hay nói cách khác, những ý nghĩa văn hóa của biểu tượng cần được “hành nhân” định hướng trong quá trình diễn giải. Để có cứ liệu cho phân tích truy nguyên về ý nghĩa này, phương pháp “mô tả chiều sâu” (thick description) (Geertz, 1973b:06) trong khảo tả dân tộc học là công cụ thực hiện.