Mở đầu 7ây Du Ký, tác giả Ngô Thừa Ấn viết: “Dục trị tạo hóa hội nguyên công, tu khán Tây Du thích ách truyện”, ý nói rằng: Muốn biết công của tạo hóa ra sao, muốn hiểu được ý nghĩa của đời người thế nào, vậy cần phải hiểu 7y 2w Ký". Với mong muốn giúp cho các bạn hiểu hơn về tác phẩm; chúng tôi sẽ đi sâu phân tích về các kiếp nạn, cũng như tính cách và hành động của từng nhân vật. Qua đó giúp mọi người hiểu thêm về hành trình thỉnh kinh gian nan của thầy trò Đường Tăng và những ý nghĩa, bài học nhân sinh cao cả mà tác giả gửi gắm đăng sau hành trình. Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu thêm về ứng dụng của 74 Du Ky & Việt Nam qua sức hút và sự ảnh hưởng sâu rộng của tác phẩm.
Đó là những điều mà chúng tôi sẽ lí giải trong phần nghiên cứu. Rất mong nhận được sự bô sung, góp ý của cô và các bạn nếu còn thiếu sót trong quá trình triển khai. NGÔ THỪA ÂN VÀ TÁC PHẨM TÂY DU KÝ 1. Cuộc đời Ngô Thừa Ân Tác giả Ngô Thừa Ân (874) (1500-15812), tên tự là Nhữ Trung (3#), hiệu là Xa Duong Son Nhan (S43 BALA), nguoi phi Hoai An, huyén Son Dương, tỉnh Giang Tô, sống ở thời Gia Tĩnh Vạn Lịch triều Minh.
Ông xuất thân từ một gia đỉnh quan lại sa sút trở thành tiêu thương. Cha của Ngô Thừa Ân là Ngô Nhuệ - làm nghề buôn bán “chỉ màu vải hoa”, vốn ham đọc sách, hiểu biết cả lục kinh! và luận thuyết của Bách gia chư tử ?. Còn Ngô Thừa Ân từ thuở thiếu thời đã sớm nỗi tiếng là người học giỏi, có tài văn chương. Ngoài ra, ông còn đặc biệt yêu thích những chuyện yêu ma quỷ quái.
Lúc đứng tuổi, ông có chắp bút một bộ tiêu thuyết tên là “Vũ Đình Chí”, tiếc rằng đã lưu lạc mắt, chỉ còn sót lại bài tựa. Trong đó, ông viết: '“Từ ngày còn nhỏ tôi rất thích những chuyện kỳ quái, khi còn học ở trường, thường kiếm những chuyện dã sử ở chợ búa, nhưng sợ cha thầy mắng, tìm chỗ kín mà đọc. Đến lúc lớn càng thích đọc, thích nghe. Sách của tôi tuy mang tên chí quái, nhưng không phải ghi lại chuyện ma quỷ đời Minh, ngày nay con người đã đổi thay nhiều, nên nó có tác đụng khuyên răn giáo dục.” (Trần Xuân Đề, 1991, Những bộ tiêu thuyết cổ điển hay nhất của Trung Quốc, tr.138) “Trong bài “Xạ Dương tiên sinh tồn cáo bạt” của Ngô Quốc Vinh có nói: “Xạ Dương tiên sinh khi còn để trái đào, văn chương đã có tiếng đồn ở vùng sông Hoài.
Những người đến thăm, đến chơi, xin bài, hỏi chữ, luôn luôn không ngớt. "Sách Hoài An phú chỉ của Thiên Khải có nói về ông: “Ông tỉnh lanh lẹ, thông minh, xem rộng hết các sách; khi làm văn thơ, hạ bút là thành bài; thanh nhã tươi dep, có phong cách như Tân Thiếu Du. Ông lại giỏi hài kịch, viết được một số vở nổi tiếng một thời”. Song sống giữa thời đại kén người tài bằng cách lây bát cỗ văn” làm tiêu chuẩn, thì một người có cốt cách cùng tài năng trác việt như Ngô Thừa Ân tất nhiên khó được dùng đến, đành “lận đận mãi nơi trường ốc”.
Mãi đến tuôi tứ tuần, ông mới d6 chire “tué céng sinh”. ! 6 bộ kinh của Nho Giáo, bao gồm: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc và Xuân Thu là các sách kinh điển của Nho giáo do Không Tử soạn. ? Những triết lý và tư tưởng ở Trung Hoa cổ đại nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ thứ 6 đến năm 221 TCN trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc. 3 Lối văn thông dụng nhất trong trường thi ở triều Minh.
* Tương đương học vị cử nhân. Sau khi cha mắt, gánh cảnh mẹ già nhà khổ, Ngô Thừa Ân đi nhận chức thừa lại ở huyện Trường Hưng. Nhưng chỉ được vài năm, vì thẹn cảnh phải “vào luồn ra cúi”, ông đành từ quan chuyên đến Kim Lăng (Nam Kinh) tìm việc mưu sinh, song vẫn không được gì. Về già, ông quay lại làng cũ, ngày ngày uống rượu ngâm thơ, vui thú cảnh ruộng vườn và sáng tác văn chương được hơn mười năm thì qua đời.
Sự nghiệp sáng tác của Ngô Thừa Ân vốn không ít, nhưng vì gia cảnh nghèo khó, lại không có con nỗi dõi, nên phần lớn các tác phâm của ông đều bị thất truyền. Hiện chỉ còn lại kiệt tác “7áy 2 Ký” và bốn quyên “Xạ đương tiên sinh tôn cáo” do hậu thé góp nhặt được. Mặc dù tư tưởng của Ngô Thừa Ân trên cơ bản vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến của một nhà nho truyền thông, tôn vinh giai cấp thống trị, hết lòng với đạo lẽ vua tôi, nhưng đối diện với hiện thực xã hội tăm tôi nghiệt ngã của triều Minh, khiến ông không thê không bất mãn, tự xưng: “Trong lòng mài mãi dao trừ tả, muốn đẹp sạch di, buồn không đủ sức ”(Lê Huy Tiêu , 2007, Lich sve van hoc Trung Quoc tap I, tr. Xuất thân từ một gia đình mang cảnh ngộ bần khô trong xã hội phong kiến, lại gặp lắm gian truân trên con đường khoa cử, tính tình cương trực ngay thắng, ngang ngạnh “bình sinh không đề người thương hại, cười khóc vui buồn vẻ tự nhiên” quyết không cúi đầu trước tiền tài quyền lực, nên vết rạn nứt giữa ông và giai cấp thống trị ngày càng thêm sâu sắc.
Có hoài bão trừ bạo an dân nhưng không đủ sức, Ngô Thừa Ấn đã gửi gắm nỗi căm hờn, những lý tưởng bỏ đở, cái khao khát giúp đời sửa thế vào văn chương, thể hiện rõ qua hành động phản kháng của loạt nhân vật chính diện trong tác phâm 7ây Du Kỹ. Bối cảnh lịch sử và nguồn gốc ra đời Tây Du Ký Về bối cảnh lịch sử, sau sự biến “Thổ Mộc Bảo””, vương triều nhà Minh bat đầu đi xuống, những đời hoàng đề sau Minh Anh Tông đều tối tăm hủ bại. Vận nước suy yếu từ loạn ở trong, gay gắt nhất phải kê đến là nạn hoạn quan chuyên quyền, gây lũng đoạn triều chính ngày càng nghiêm trọng. Khi Minh Hiến Tông (con của Minh Anh Tông) tại vị, có hoạn quan Uông Trực tác oai tác quái.
Đương thời Minh Vũ Tông lên ngôi thì có tám hoạn quan kể cận hầu hạ, đứng đầu là Lưu Cần, dựa thế hoàng để làm đủ chuyện phi pháp, dân gian gọi chúng là “bát hỗ”. Hoạn quan vốn là nhóm người trực tiếp hầu hạ hoàng để đã bày ra đủ trò vui thú, tiếp tay cho hoàng đề chìm đắm vào tửu sắc, ăn chơi hưởng lạc, xa rời triều chính, đề chúng dễ bẻ thao túng đại sự, khiến vương triều loạn lạc. Đến khi Minh Thế Tông kế vị thì nạn hoạn quan tạm thời được đẹp yên. Song ông lại mê tín Đạo giáo mà bỏ bê việc nước đề cho nịnh thần Nghiêm Tung ở thế lộng quyền, kết bè kết cánh phá hoại vương triều.
' Cuộc chiến giữa quân đội nhà Minh và bộ tộc Ngõa lạt (Mông Cổ) xảy ra vào năm 1449. Lực lượng hơn năm mươi vạn đại quân Minh vốn đông đảo hơn đối thủ lại bị đánh bại, trong đó có hoàng đề Minh Anh Tông bị bắt sống làm con tin. Không chỉ chế độ phong kiến suy yếu, mà nền kinh tế nhà Minh cũng trên bờ vực lâm nguy. Nguồn lợi thu vào không đủ cho vua tiêu pha hoang phí, chính sách đối ngoại tỏ ra hào phóng rộng rãi với các thuộc quốc, ngược lại phát động chiến tranh tốn kém để thị uy những nước không chịu thuần phục.
Bên cạnh đó, từ năm 1550 tro di- dưới thời Minh Thế Tông, giặc biến Nhật Bản hoành hành ngày càng nghiêm trọng, chúng đánh phá, cướp bóc làng mạc và có lúc gần như uy hiếp Nam Kinh. Đề giải quyết giặc biển, nhà Minh phải hao tốn rất nhiều tiền bạc khiến ngân khố kiệt quệ. Thiếu tiền, triều đình lại đánh thuế lên nhân dân, nhiều nhất là thuế ruộng. Thuế ruộng quá nặng khiến người nông dân không đủ khả năng nộp phải bỏ ruộng trốn đi nơi khác lưu vong, trộm cướp.
Quan lại thì tham nhũng nặng nè, tệ nạn đút lót hối lộ để làm quan, thí cử gian lận, thu thuế thì gian đối, bóc lột ức hiếp dân lành. Trước tình trạng xã hội như vậy, vua thì sa đọa, phóng túng, tạo cơ hội cho hoạn quan, nịnh thần nắm hết cục điện triều chính bóc lột nhân dân, tệ nạn tham nhũng và loạn lạc xảy ra. Ngô Thừa Ấn sẵn niềm bất mãn giai cấp thống trị hủ bại, lại có tâm huyết muốn thông qua văn chương nhằm gửi gắm triết lý giáo dục, tất cả những điều đó đã trở thành động lực thúc đây ông hoàn thành pho tiêu thuyết thần thoại trường thién vi dai Tay Du Ky với tám mươi vạn chữ. Như vậy, vào khoảng những năm Gia Tĩnh - Vạn Lịch giữa thời Minh, bộ tiểu thuyết 7â» Du Ký đồ sộ một trăm hồi đã ra đời.
Câu chuyện kế về Tôn Ngộ Không phò tá Đường Tăng sang Tây thiên thỉnh kinh phật, trong suốt cuộc hành trình đã trải qua vô số gian khổ, hàng phục không biết bao nhiêu là yêu quái. Ngoài ra, dé bé tro thêm cho cốt truyện chính, tác phẩm còn đề cập đến chuyện “Đại náo thiên cung” nhằm làm rõ lai lịch Tôn Ngộ Không, hay chuyện “Giang lưu nhỉ” để giải thích xuất thân của Đường Tăng. Mặc đù lấy việc đi thỉnh kinh làm cốt lõi, nhưng những câu chuyện thứ yếu được thêm vào đều bắt nguồn từ thần thoại và truyền thuyết dân gian, trải qua quá trình lưu truyền lâu dài, từng chuyện riêng lẻ được tập hợp lại thành một chỉnh thể trọn vẹn và không ngừng được biến đổi, mở rộng thêm. Vì thế, lây Du Ky không phải do riêng cá nhân Ngô Thừa Ân sáng tác ra, mà trước khi được Ngô Thừa Ấn viết Thành sách, chuyện Tây du cơ bản đã sớm hình thành rồi.
Muốn truy tìm nguồn gốc của 7y 2w Kỹ, ta phải ngược dòng thời gian đến những năm đầu thời nhà Đường. Năm thứ 2 niên hiệu Trinh Quán (628) đời Đường Thái Tông, có một nhà sư trẻ tuổi tên gọi Huyền Trang, từ nhỏ đã xuất gia nương nhờ cửa Phật, từng đi khắp nơi thỉnh giáo các vị hòa thượng nổi tiếng để học hỏi giáo lý. Nhưng bao nhiêu cũng không mãn nguyện, Huyền Trang quyết chí một mình sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) lấy kinh, dé có điều kiện di sâu nghiên cứu Phật giáo. “Thời bấy giờ có lệnh cắm người ra nước ngoài học tập, Huyền Trang phải trà trộn vào đám con buôn, trỗn khỏi biên giới, đường xa vạn dặm, cudi cung dat chan trén dat An.
Tại Ấn, Huyền Trang đi khắp đó đây lễ chùa bái Phật thu thập giáo lý, học được mãẫy mươi thứ tiếng nước ngoài.