Chương 1: Khái quát chung về xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Chương 2: Thực trạng giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Chương 3: Nguyên nhân của thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT GIỮA NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1.
Khái niệm, chức năng, điều kiện bảo hộ và ý nghĩa của nhãn hiệu và tên thƣơng mại 1. Khái niệm Khoảng 4000 năm về trƣớc, nhãn hiệu đã đƣợc sử dụng để nhận biết nguồn gốc của sản phẩm. Vào thời xa xƣa đó, các thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn Độ, Ba tƣ đã sử dụng chữ ký của họ hoặc một biểu tƣợng riêng để phân biệt sản phẩm của họ. Việc sử dụng nhãn hiệu trong thời Trung cổ đã đƣợc gắn với phát triển và tăng trƣởng của thƣơng mại, từ đó mới xuất hiện thuật ngữ “Nhãn hiệu hàng hoá” [23, tr.
Ngày nay, nhãn hiệu đã phát triển thành công cụ để nhận biết sản phẩm của các công ty khác nhau. Trên thế giới hiện có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhãn hiệu. Theo Khoản 1 Điều 15 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thƣơng mại của Quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPs: Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào. Có khả năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa.
Các dấu hiệu đó đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc mầu cũng nhƣ tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng đƣợc đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa. Trƣờng hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tƣơng ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng đƣợc đăng ký thuộc vào tính phân biệt đạt đƣợc thông qua việc sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để đƣợc đăng ký các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy đƣợc.[12] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây dƣờng nhƣ là một định nghĩa bao quát chung nhất các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu, từ bản chất, chức năng, các yếu tố cấu thành đến điều kiện bảo hộ của nhãn hiệu đều đƣợc đề cập trong định nghĩa này. Kế thừa nhƣng có phần rút gọn hơn rất nhiều là định nghĩa về nhãn hiệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO, theo đó, “nhãn hiệu hàng hóa được hiểu một cách chung nhất là dấu hiệu phân biệt, để chỉ ra sản phẩm, dịch vụ, được sản xuất hay cung cấp bởi một chủ thể nào đó và để phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.
Định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa trên đây của WIPO chỉ tập trung vào bản chất của nhãn hiệu hàng hóa đồng thời là hai chức năng chính của nhãn hiệu, chức năng chỉ nguồn gốc và chức năng phân biệt. Nội dung chính của hai chức năng này sẽ đƣợc đề cập cụ thể trong phần chức năng của nhãn hiệu dƣới đây. Kết hợp giữa hai định nghĩa nêu trên, Hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng có định nghĩa về nhãn hiệu. Tại khoản 1 Điều 6 Hiệp định này quy định : Trong hiệp định này, nhãn hiệu hàng hóa đƣợc cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của một ngƣời với hàng hóa dịch vụ của ngƣời khác, bao gồm từ ngữ, tên ngƣời,hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa.
Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.[11] Với sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần của định nghĩa nhãn hiệu trong Hiệp định TRIPs và định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, Hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng khẳng định bản chất của nhãn hiệu cũng nhƣ nêu bật các yếu tố cấu thành nhãn hiệu trong định nghĩa đề cập trên, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuy nhiên Hiệp định này không chỉ dừng ở đó mà còn đƣa vào định nghĩa đó phân loại nhãn hiệu. Không bao hàm quá nhiều nội dung, định nghĩa nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam khá ngắn gọn, đƣợc đề cập tại Khoản 16, Điều 4 Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. [20] Định nghĩa nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay loại bỏ gần nhƣ tất cả các vấn đề về yếu tố cấu thành, về điều kiện bảo hộ cũng nhƣ phân loại nhãn hiệu mà chỉ tập trung vào bản chất của nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Mặc dù định nghĩa này dƣờng nhƣ gần nhất với định nghĩa về nhãn hiệu của WIPO, tuy nhiên nếu xem xét kỹ có thể nhận thấy sự khác biệt căn bản giữa hai định nghĩa này chính là việc xem xét bản chất của nhãn hiệu.
Nếu nhƣ định nghĩa nhãn hiệu của WIPO đề cập đến cả hai chức năng chính của nhãn hiệu là chỉ nguồn gốc và phân biệt hàng hoá dịch vụ thì định nghĩa nhãn hiệu của pháp luật Việt Nam chỉ tập trung vào chức năng thứ hai của nhãn hiệu và coi đó là chức năng chủ yếu chỉ ra bản chất của nhãn hiệu. Theo quan điểm của các nhân tác giả, định nghĩa nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam hiện hành có thể nói là đã theo kịp xu hƣớng mở trong cách định nghĩa, với việc khái quát chung nhƣ vậy, việc sửa đổi để thêm các đối tƣợng đƣợc bảo hộ dƣới danh nghĩa nhãn hiệu sẽ không làm thay đổi định nghĩa về nhãn hiệu. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hƣớng phát triển của nhãn hiệu trên thế giới, bởi ngày càng có nhiều đối tƣợng đƣợc xem xét bảo hộ nhƣ một nhãn hiệu ví dụ nhƣ âm thanh, màu sắc, mùi vị v. Tuy nhiên, tác giả cho rằng định nghĩa nhƣ vậy vẫn chƣa đầy đủ bởi nó chƣa chỉ ra đƣợc hoàn toàn bản chất của nhãn hiệu.
Nhƣ vậy, một nhãn hiệu hàng hoá có thể là một từ, khẩu hiệu, logo, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng nhƣ một màu sắc hoặc tổ hợp màu, âm thanh hoặc thậm chí là mùi hƣơng. Để có một cái nhìn khái quát về nhãn hiệu là nền tảng cho việc xem xét nhãn hiệu trong mối quan hệ với tên thƣơng mại cũng nhƣ vấn đề giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong các chƣơng sau, tác giả xin đƣợc đƣa ra định nghĩa chung về nhãn hiệu nhƣ sau: Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được, có thể là chữ cái, chữ số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc… dùng để chỉ ra hàng hoá/dich vụ được sản xuất/cung ứng bởi tổ chức, cá nhân nào, đồng thời phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức cá nhân đó với hàng hoá/dịch vụ của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh khác. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Chức năng Từ định nghĩa nêu trên của nhãn hiệu hàng hoá có thể nhận thấy hai khía cạnh khác nhau thể hiện hai chức năng của nhãn hiệu hàng hoá nhƣng phụ thuộc lẫn nhau và trong thực tế luôn cần đƣợc xem xét cùng với nhau: (i) Chức năng chỉ dẫn thƣơng mại, cụ thể là chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hoá/dịch vụ: Chức năng này là chức năng chung của các dấu hiệu chỉ dẫn thƣơng mại nhƣ nhãn hiệu, tên thƣơng mại, biểu tƣợng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá.
Tất cả các dấu hiệu này khi đƣợc gắn lên một hàng hóa hay đi kèm với một dịch vụ nhất định đều nhằm mục đích chỉ dẫn cho ngƣời tiêu dùng về cơ sở sản xuất hoặc cơ sở phân phối hàng hóa đó hay cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ mang các dấu hiệu đó. Mặc dù cùng thực hiện chức năng chỉ dẫn thƣơng mại, tuy nhiên mỗi một loại dấu hiệu này thực hiện chức năng này theo một cách thức rất riêng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi quyết định lựa chọn một sản phẩm/dich vụ, điều đầu tiên tác động đến tâm lý ngƣời tiêu dùng đó chính là nhãn hiệu. Bởi nhãn hiệu là sợi dây liên kết giữa ngƣời tiêu dùng và nhà sản xuất/nhà cung ứng dịch vụ.
Nhãn hiệu với chức năng đầu tiên và quan trọng của mình chính là chỉ dẫn cho ngƣời tiêu dùng biết sản phẩm/dich vụ đó đƣợc cung cấp bởi nhà sản xuất/nhà cung ứng dịch vụ nào. Một sản phẩm/dịch vụ khi đã đƣợc đƣa ra thị trƣờng với một nhãn hiệu nhất định, đã đem đến cho ngƣời tiêu dùng sự tin tƣởng vào uy tín và chất lƣợng của nhà sản xuất sản phẩm/nhà cung ứng dịch vụ đó, nhãn hiệu đó sẽ là dấu hiệu để ngƣời tiêu dùng quyết định chọn mua một sản phẩm nào đó mà không hề do dự bởi họ đã biết hàng hóa hàng hoá mang nhãn hiệu đó đã đƣợc chứng minh về mặt chất lƣợng, chắc rằng hàng hoá mang nhãn hiệu đó đƣợc sản xuất bởi cùng một nhà sản xuất hoặc có liên quan đến nhau và hoàn toàn tin tƣởng vào hàng hóa của nhà sản xuất đó. Nhƣ vậy, chỉ cần nhìn vào nhãn hiệu hàng hóa, ngƣời tiêu dùng có thể cho rằng sản phẩm mang nhãn hiệu hàng hóa đều có cùng nguồn gốc hoặc ngay cả khi đã xác định đƣợc hai sản phẩm mang nhãn hiệu đó đƣợc sản xuất bởi các nhà sản xuất khác nhau thì họ cũng sẽ cho rằng có mối liên hệ nào đó giữa các nhà sản xuất này. Điều này không có nghĩa là nhãn hiệu nhất thiết phải thông báo cho ngƣời tiêu dùng về ngƣời thực sự đã sản xuất ra sản phẩm hoặc thậm chí là ngƣời bán sản phẩm hay ngƣời trực tiếp cung ứng dịch vụ.