Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành cà phê Việt Nam trong thập niên 2000 đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể khi kim ngạch xuất khẩu chính thức vượt ngưỡng 1 tỷ USD và hướng đến mục tiêu 2 tỷ USD. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ và Đức. Việc phụ thuộc vào các thị trường này tiềm ẩn nhiều rủi ro do áp lực cạnh tranh gay gắt từ các thương hiệu toàn cầu cùng các rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Do đó, yêu cầu tìm kiếm và mở rộng sang các thị trường mới nhằm phân tán rủi ro và duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trở nên cấp thiết.
Khu vực Trung Đông gồm 15 quốc gia và vùng lãnh thổ được xác định là thị trường tiêu thụ giàu tiềm năng. Do đặc thù thổ nhưỡng và khí hậu khô hạn không thể canh tác cà phê, khu vực này là thị trường nhập khẩu ròng, với gần 90% tổng khối lượng tiêu thụ phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển, tính thanh khoản cao và các quy định kỹ thuật không quá khắt khe là những điều kiện thuận lợi cho nông sản Việt Nam. Năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Đề án "Thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Đông giai đoạn 2008 - 2015", xác định cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Dù vậy, thị phần của cà phê Việt Nam tại khu vực này vẫn còn khiêm tốn.
Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu tổng quan về thị trường nhập khẩu cà phê Trung Đông, bao gồm tập quán tiêu dùng, dung lượng thị trường và hệ thống quy định thương mại.
- Phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Trung Đông giai đoạn 2005 – 2010 trên các khía cạnh: khối lượng, kim ngạch, cơ cấu sản phẩm, giá cả, kênh phân phối, logistics và xúc tiến thương mại.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang khu vực Trung Đông giai đoạn 2011 – 2015.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Trung Đông. Phạm vi không gian bao gồm thị trường 15 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Trung Đông; phạm vi thời gian đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng giải pháp cho giai đoạn 2011 – 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và lượng hóa thông qua chỉ số Lợi thế so sánh biểu hiện (Revealed Comparative Advantage - RCA) do Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) cung cấp nhằm chứng minh năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng các quy tắc thương mại quốc tế Incoterms 2000, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc gia TCVN 4193:2005, tiêu chuẩn giao dịch cà phê Robusta trên sàn LIFFE, hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP), cùng các quy định khu vực như chứng nhận tôn giáo HALAL, quy chế miễn thuế của Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) và các chỉ thị ghi nhãn thực phẩm của Liên minh châu Âu (Directives 2000/13/EEC, 90/496/EEC).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu bàn và nghiên cứu thực tế:
- Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp từ Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc (UN Comtrade), Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Tổng cục Hải quan Việt Nam và Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (VICOFA).
- Điều tra khảo sát thực tế bằng bảng câu hỏi (qua email và bản giấy) đối với 82 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, được chọn ngẫu nhiên từ danh sách thành viên VICOFA, Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC) và các đơn vị tham gia Lễ hội Cà phê Buôn Mê Thuột năm 2011. Trong đó, tập hợp mẫu chứa 16 doanh nghiệp đang có giao dịch xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Trung Đông. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp và phân tích định lượng bằng phần mềm thống kê SPSS.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về xuất khẩu cà phê vào thị trường Trung Đông và sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Chương này phác thảo bức tranh tổng thể về thị trường nhập khẩu Trung Đông và luận giải tính tất yếu của việc mở rộng thị phần của Việt Nam tại đây. Thị trường Trung Đông tiêu thụ cà phê theo hai xu hướng song hành: phong cách Ả Rập truyền thống (uống hạt chưa rang xay kèm thảo mộc như bạch đậu khấu, gừng tại gia đình hoặc nhà hàng) và phong cách công nghiệp hiện đại (sử dụng cà phê nhanh, phát triển mạnh ở nhóm lao động trẻ và chuỗi cửa hàng như Starbucks với hơn 300 điểm bán, Costa khoảng 80 điểm bán). Khối lượng nhập khẩu của toàn vùng giai đoạn 2005 – 2010 duy trì bình quân trên 145.000 tấn/năm, kim ngạch trung bình đạt 350 triệu USD/năm và chạm mức hơn 440 triệu USD vào năm 2010. Cơ cấu nhập khẩu của khu vực tập trung trên 90% vào mặt hàng cà phê nhân chưa tách caffein (mã HS 090111).
| Nhóm nước tại Trung Đông |
Thuế suất thuế nhập khẩu cà phê |
| I-rắc, I-xra-en, Ả-rập Xê-út, UAE, Y-ê-men |
0% |
| Ba-ranh, Cô-oét, Li-băng, Ô-man, Ca-ta |
5% |
| Thổ Nhĩ Kỳ |
13% |
| Síp, I-ran, Gioóc-đa-ni, Si-ri |
0 – 9% (tùy chủng loại) |
Quy định nhập khẩu tại khu vực này chịu ảnh hưởng từ tiêu chuẩn EU nhưng thủ tục tương đối đơn giản, yêu cầu Giấy chứng nhận Y tế và Giấy chứng nhận Kiểm dịch thực vật do Bộ Y tế nước xuất khẩu cấp. Chứng nhận HALAL không bắt buộc đối với cà phê thô nhưng là lợi thế cạnh tranh lớn.
Việt Nam có lợi thế so sánh cao với chỉ số RCA giai đoạn 2005 – 2009 dao động từ 18,2 đến 30,4, diện tích canh tác năm 2010 đạt 542,8 nghìn ha. Tuy nhiên, Việt Nam mới chiếm 6% thị phần kim ngạch nhập khẩu cà phê của Trung Đông, trong khi Bra-xin chiếm tới hơn 30%. Từ bài học của Bra-xin (vai trò cầu nối của Phòng Thương mại các nước Ả Rập – Bra-xin, chương trình tiếp thị quốc gia Cafés do Brasil, việc duy trì mức tiêu thụ nội địa trên 19 triệu bao và hệ thống hợp tác xã nông nghiệp chiếm 35% sản lượng), tác giả chỉ ra Việt Nam cần chủ động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng nội địa và tổ chức lại mạng lưới nông dân.
Chương 2. Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Trung Đông giai đoạn 2005 – 2010
Chương 2 đi sâu phân tích các chỉ tiêu xuất khẩu thực tế dựa trên dữ liệu thống kê hải quan và khảo sát thực tế 82 doanh nghiệp.
Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu: Giai đoạn 2005 – 2010, lượng xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực tăng trưởng bình quân 9%/năm, từ 11.050 tấn (năm 2005) tăng lên mức đỉnh hơn 22.000 tấn (năm 2007, chiếm 1,8% tổng lượng xuất khẩu cả nước), sau đó giảm do suy thoái kinh tế và phục hồi đạt 26,2% vào năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 12,12 triệu USD (2005) lên hơn 26 triệu USD (2010), chiếm tỷ trọng khiêm tốn từ 1,3% đến 1,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê toàn quốc.
Cơ cấu mặt hàng và giá cả: Mặt hàng xuất khẩu chủ đạo là cà phê nhân Robusta chưa tách caffein (HS 090111), chiếm 91,55% đến 97,83% tổng khối lượng xuất khẩu sang vùng. Giá xuất khẩu FOB TP. Hồ Chí Minh biến động hoàn toàn phụ thuộc vào sàn thế giới: tăng từ 855 USD/tấn (2005) lên 1.765 USD/tấn (2008), sụt giảm còn 1.332 USD/tấn (2009) và tăng lại mức 1.610 USD/tấn (2010). Do xuất khẩu thô, doanh nghiệp Việt Nam chỉ hưởng khoảng 6% chuỗi giá trị, hơn 90% lợi nhuận thuộc về các hãng rang xay quốc tế.
| Năm |
Khối lượng (Tấn) |
Kim ngạch (1.000 USD) |
Giá FOB TP.HCM (USD/tấn) |
Tỷ trọng kim ngạch toàn ngành (%) |
| 2005 |
11.050 |
12.120 |
855 |
1,68 |
| 2006 |
14.500 |
18.200 |
1.230 |
1,51 |
| 2007 |
22.100 |
30.080 |
1.503 |
1,59 |
| 2008 |
15.950 |
33.800 |
1.765 |
1,62 |
| 2009 |
13.450 |
22.980 |
1.332 |
1,34 |
| 2010 |
16.980 |
30.800 |
1.610 |
1,68 |
Cơ cấu thị trường và kênh phân phối: Cà phê Việt Nam xuất hiện tại 8 nước, trong đó 4 thị trường trọng điểm là I-xra-en, Gioóc-đa-ni, Ô-man và Ả-rập Xê-út (chiếm trên 90% kim ngạch vào khu vực). I-xra-en dẫn đầu nhờ các hiệp định thương mại song phương ký kết năm 2004 và 2007. Khối GCC tiêu thụ trên 50% lượng nhập khẩu của toàn vùng nhưng Việt Nam mới chiếm 0,02% thị phần tại đây. Về kênh phân phối, 100% doanh nghiệp xuất khẩu qua trung gian (68,75% qua đại lý phân phối, 31,25% qua nhà nhập khẩu Trung Đông), không có doanh nghiệp nào xây dựng được hệ thống phân phối trực tiếp.
Hạ tầng logistics và xúc tiến thương mại: 100% doanh nghiệp khảo sát áp dụng điều kiện giao hàng FOB. Khi vận chuyển container, việc giao nhận thực tế diễn ra tại bãi CY hoặc trạm CFS thay vì lan can tàu, khiến thời gian cấp vận đơn kéo dài từ 5 đến 7 ngày (mùa cao điểm trên 10 ngày), làm chậm trễ tiến độ thanh toán và phát sinh chi phí lãi vay ngân hàng. Về xúc tiến thương mại, kết quả khảo sát 16 doanh nghiệp bằng SPSS ghi nhận:
- Tầm quan trọng của hội chợ triển lãm được đánh giá ở mức cao (Mean = 4,31/5; Std = 0,479), nhưng mức độ quan tâm đầu tư thực tế thấp hơn (Mean = 3,44/5; Std = 0,892); 56% doanh nghiệp chỉ tham gia 1 lần/năm và 13% tham gia dưới 1 lần/năm.
- Tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu đạt mức đánh giá rất cao (Mean = 4,56/5; Std = 0,527), song mức độ đầu tư của doanh nghiệp chỉ dừng ở mức trung bình yếu (Mean = 3,11/5; Std = 0,601).
Nguồn hàng và sơ chế: Diện tích cà phê cả nước năm 2010 đạt 548,2 nghìn ha, sản lượng đạt hơn 1,1 triệu tấn (năng suất 2,01 tấn/ha), 95% là Robusta. Tuy nhiên, khâu tạo nguồn hàng bộc lộ nhiều yếu kém: 85% diện tích canh tác thuộc hộ cá thể dưới 2 ha. Khảo sát tại Chư Sê (Gia Lai) cho thấy chỉ 11% vườn có cây che bóng; tỷ lệ bón phân cân đối đạm - lân - kali chỉ đạt lần lượt 10%, 13,3% và 3,3%. Tình trạng thu hái lẫn quả xanh (lên tới 70 - 75%) khiến hạt kém phẩm chất; trên 90% sản lượng áp dụng phương pháp chế biến khô và nửa ướt thủ công khiến tỷ lệ tạp chất cao. Việt Nam từng chiếm tới 80% lượng cà phê bị loại bỏ trên thị trường thế giới do lỗi kỹ thuật.
Chương 3. Đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Trung Đông giai đoạn 2011 – 2015
Chương này trình bày các căn cứ chiến lược và hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2011 – 2015:
- Cơ sở và quan điểm đề xuất: Dựa trên dự báo nhu cầu nhập khẩu cà phê của Trung Đông và mục tiêu phát triển nông nghiệp mũi nhọn của Nhà nước. Quan điểm cốt lõi là lấy chất lượng làm yếu tố sống còn, xác định Trung Đông là thị trường trọng điểm để đa dạng hóa, giải pháp phải thực hiện trong mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân.
- Mô hình liên kết bốn nhà: Vận hành cơ chế hợp tác giữa Nhà nước (hỗ trợ chính sách, pháp lý, quy hoạch), Nhà khoa học (chuyển giao công nghệ giống, kỹ thuật thâm canh, bảo quản), Doanh nghiệp (bao tiêu, đầu tư vốn, chế biến xuất khẩu) và Nhà nông (tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn).
- Nhóm giải pháp xúc tiến và thương hiệu: Thiết lập đầu mối thông tin chính thức hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ nông sản lớn tại Dubai và Riyadh; triển khai lộ trình 3 giai đoạn xây dựng thương hiệu cà phê Việt Nam tại Trung Đông đến năm 2015.
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng: Thành lập các hợp tác xã sản xuất cà phê nhằm xóa bỏ tập quán canh tác phân tán; triển khai áp dụng tiêu chuẩn chất lượng TCVN 4193:2005 tiệm cận tiêu chuẩn LIFFE; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá nhà cung cấp cà phê nhân; đào tạo nguồn nhân lực thông thạo ngôn ngữ tiếng Ả Rập và văn hóa kinh doanh Hồi giáo; đồng thời thúc đẩy tiêu thụ cà phê nội địa (vốn chỉ ở mức 0,64 kg/người/năm, tương đương 6% sản lượng) nhằm giảm thế phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu.
- Nhóm giải pháp chuỗi cung ứng và giao nhận: Thiết lập liên kết liên minh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tránh cạnh tranh bán phá giá; chuyển đổi tập quán thương mại từ điều kiện FOB sang các điều kiện giao hàng hiện đại của Incoterms như FCA (Free Carrier) để hạn chế rủi ro chứng từ tại bãi CY/CFS và đẩy nhanh tiến độ thu hồi vốn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu:
- Hệ thống hóa các chỉ số thương mại của thị trường Trung Đông: Xác thực khu vực này phụ thuộc tới 88 - 90% vào cà phê nhập khẩu; tổng hợp chi tiết biểu thuế nhập khẩu của 15 nước (từ 0% tại UAE, Ả-rập Xê-út đến 13% tại Thổ Nhĩ Kỳ) cùng các quy định phi thuế quan (tiêu chuẩn nhãn mác tiếng Ả Rập/Hebrew, rào cản kiểm dịch và ưu tiên chứng nhận HALAL).
- Phản ánh thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam 2005 – 2010: Khối lượng đạt đỉnh 22.100 tấn (năm 2007) và kim ngạch đạt 33,8 triệu USD (năm 2008), song chỉ chiếm khoảng 6% thị phần khu vực (so với hơn 30% của Bra-xin) và dao động quanh mức 1,3% - 1,7% tổng kim ngạch cà phê của Việt Nam.
- Chỉ ra các điểm nghẽn cốt lõi qua khảo sát thực nghiệm 82 doanh nghiệp (xử lý qua SPSS): Xác lập số liệu 100% doanh nghiệp xuất khẩu gián tiếp; 100% giao hàng theo điều kiện FOB dẫn đến chậm trễ phát hành vận đơn từ 5 đến 10 ngày; khoảng cách lớn giữa nhận thức và mức độ đầu tư cho hội chợ (Mean 4,31 so với 3,44) và thương hiệu (Mean 4,56 so với 3,11).
- Khẳng định các bất cập trong khâu trồng trọt và chế biến: 85% diện tích thuộc quy mô hộ cá thể dưới 2 ha, tỷ lệ che bóng chỉ đạt 11%, trên 90% áp dụng phương pháp chế biến khô/nửa ướt dẫn đến chất lượng hạt không đồng đều.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính cấu trúc: Mô hình liên kết bốn nhà, mô hình phát triển thương hiệu 3 giai đoạn, lộ trình chuẩn hóa kỹ thuật TCVN 4193:2005 gắn với sàn LIFFE và giải pháp chuyển đổi điều kiện ngoại thương sang FCA.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Dữ liệu thứ cấp phản ánh thực trạng kết thúc ở mốc năm 2010, các đề xuất giải pháp được xây dựng cho khung thời gian 2011 – 2015.
- Mẫu khảo sát SPSS dù tiếp cận 82 doanh nghiệp nhưng số lượng đơn vị có phát sinh giao dịch thực tế với thị trường Trung Đông chỉ dừng lại ở 16 doanh nghiệp, khiến quy mô mẫu phân tích chuyên sâu cho các biến số hành vi xúc tiến tại khu vực này tương đối hẹp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đánh giá hiệu quả việc ứng dụng điều kiện FCA thay cho FOB trong logistics cà phê đóng container; khảo sát sâu hơn về hành vi tiêu dùng đối với dòng sản phẩm cà phê hòa tan chế biến sâu tại từng phân khúc thị trường bán lẻ của khối các nước GCC.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh quốc tế và Thương mại quốc tế khi nghiên cứu về chiến lược thâm nhập thị trường ngách và thị trường khu vực Trung Đông. Đồng thời, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam về biểu thuế, rào cản kỹ thuật, tập quán tiêu dùng của người Ả Rập và các điểm cần lưu ý khi ký kết hợp đồng logistics (FOB và container hóa). Phần phân tích tiêu chuẩn TCVN 4193:2005 đối chiếu với sàn LIFFE tại Chương 3 là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà quản lý thu mua và sơ chế cà phê xuất khẩu.
Câu hỏi thường gặp
Thị trường Trung Đông tiêu thụ cà phê theo những tập quán và thị hiếu nào?
Thị trường tồn tại hai xu hướng: phong cách truyền thống Ả Rập (sử dụng hạt chưa rang, xay thủ công nấu cùng bạch đậu khấu và gừng, thường uống tại nhà hoặc nhà hàng cao cấp, là nét văn hóa hiếu khách bắt buộc) và phong cách công nghiệp (sử dụng cà phê nhanh tại công sở và các chuỗi cà phê như Starbucks, Costa; cà phê trở thành thức uống giao tiếp thay thế cho đồ uống có cồn bị cấm).
Tỷ trọng nhập khẩu cà phê của thị trường Trung Đông phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài như thế nào?
Do điều kiện tự nhiên khô hạn và đất đai không thích hợp canh tác, sản lượng nội khối chỉ đáp ứng được hơn 10% nhu cầu. Gần 90% tổng lượng cung cà phê tiêu thụ trên thị trường nội địa Trung Đông hàng năm là từ nguồn nhập khẩu (giai đoạn 2006 – 2010 tỷ lệ nhập khẩu luôn dao động từ 88,08% đến 90,07%).
Mặt hàng cà phê nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Đông?
Cà phê nhân chưa tách caffein (mã HS 090111), chủ yếu là dòng cà phê Robusta thô. Mặt hàng này chiếm từ 91,55% đến 97,83% tổng khối lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực trong giai đoạn 2005 – 2010.
Tại sao việc áp dụng điều kiện giao hàng FOB lại gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê đóng container sang Trung Đông?
Khi đóng hàng container, hàng hóa được giao tại bãi CY hoặc trạm CFS thay vì tại lan can tàu. Thời gian chờ từ lúc hạ bãi đến khi hãng tàu phát hành vận đơn mất 5 đến 7 ngày (cao điểm trên 10 ngày). Doanh nghiệp không thể lập ngay bộ chứng từ để thanh toán ngân hàng, dẫn đến ứ đọng vốn và phải chịu thêm chi phí lãi vay phát sinh.
Chỉ số Lợi thế so sánh biểu hiện (RCA) của cà phê Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009 đạt mức bao nhiêu?
Theo tính toán từ Trade Competitiveness Map của ITC, chỉ số RCA của cà phê Việt Nam đạt mức rất cao: năm 2005 là 19; năm 2006 là 25,5; năm 2007 là 30,4; năm 2008 là 24,1 và năm 2009 là 18,2. Các giá trị này đều vượt xa ngưỡng chuẩn 1, khẳng định lợi thế so sánh vượt trội của ngành hàng trên thị trường quốc tế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Hoàng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về thương mại cà phê giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông giai đoạn 2005 – 2010. Dựa trên việc phân tích số liệu thống kê thương mại kết hợp khảo sát thực tế 82 doanh nghiệp, tác giả đã chỉ rõ tiềm năng to lớn của thị trường Trung Đông cùng những nút thắt nội tại về chất lượng canh tác, phương thức phân phối gián tiếp và rủi ro logistics theo điều kiện FOB. Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2011 – 2015, đặc biệt là mô hình liên kết bốn nhà, lộ trình thương hiệu và áp dụng chuẩn TCVN 4193:2005, mang tính thực tiễn cao đối với định hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam.