Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC Y TẾ 1. Khái niệm vi phạm hành chính, hành vi vi phạm hành chính 1. Khái niệm vi phạm hành chính Vi phạm hành chính (VPHC) là vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến trong đời sống xã hội. Những vi phạm này xâm phạm trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân, lợi ích của cộng đồng, xã hội và Nhà nước; xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước.
Mặc dù mức độ gây nguy hiểm đối với xã hội không cao bằng tội phạm nhưng có thể nói VPHC là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nảy sinh tội phạm nếu không được xem xét và giải quyết kịp thời. Khi tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, về nguyên tắc Nhà nước sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi, nhằm đảm bảo và khôi phục những trật tự quản lý hành chính đã bị xâm phạm bởi những hành vi VPHC. Có nghĩa là, hành vi VPHC là hậu quả dẫn tới trách nhiệm hành chính mà các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi bị buộc phải thực hiện những biện pháp chế tài nhất định, tương xứng với những hành vi VPHC. Ở Việt Nam, khái niệm “Vi phạm hành chính” xuất hiện lần đầu tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989, theo đó, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định:“Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
6 Tham chiếu quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì vi phạm hành chính được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 01 tháng 10 năm 2002 định nghĩa vi phạm hành chính một cách gián tiếp tại khoản 2 Điều 1 như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí Nhà nước mà không phải là tội phạm và phải theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Ở đây pháp lệnh đã làm rõ bản chất của VPHC là các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước [9, tr. 243], không dẫn tới hệ lụy cấu thành tội phạm hình sự.
Như vậy có thể hiểu VPHC là hành vi của con người được biểu hiện qua hành động hay không hành động đã vi phạm các quy định của pháp luật hành chính và theo quy định phải bị xử phạt. Trải qua quá trình lịch sử, tùy theo từng thời kỳ, định nghĩa về VPHC được diễn đạt khác nhau trong các văn bản quy phạm khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản các khái niệm này đều thống nhất với nhau những dấu hiệu đặc trưng, mang tính bản chất của loại vi phạm này. Khoản 1, Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đưa ra khái niệm “vi phạm hành chính” như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” 7 Vi phạm hành chính cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố, bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
Mặt khách quan của VPHC: Là biểu hiện của vi phạm diễn ra bên ngoài thế giới khách quan, tác động vào các quan hệ xã hội mà pháp luật hành chính bảo vệ thông qua hành vi VPHC. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của VPHC là hành vi trái pháp luật tức là hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Như vậy, khi xem xét, đánh giá hành vi cá nhân hay tổ chức có phải là VPHC hay không, bao giờ cũng có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó phải được pháp luật quy định là sẽ xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính. Không được áp dụng “nguyên tắc suy đoán vi phạm” hoặc “áp dụng pháp luật tương tự” trong việc xác định VPHC.
Thông thường, những yếu tố này có thể là: - Thời gian thực hiện hành vi vi phạm là thời điểm hoặc khoảng thời gian hành vi VPHC được thực hiện; - Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm; - Công cụ, phương tiện vi phạm là cái mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm; - Phương pháp, thủ đoạn là cách thức thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cách thức tiến hành hành vi, cách thức sử dụng công cụ, phương tiện; - Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả là kết quả trực tiếp của hành vi trái pháp luật, đó là những thiệt hại xảy ra cho xã hội. Hậu quả được biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các quan hệ xã hội bị xâm hại. Nhìn chung, hậu quả của VPHC không nhất thiết là thiệt hại cụ thể. Tuy nhiên, với một số trường hợp, hành 8 vi của tổ chức, cá nhân bị coi là VPHC khi nó là nguyên nhân gây ra thiệt hại thực tế.
Mặt chủ quan của VPHC: Là biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể VPHC, bao gồm các dấu hiệu như lỗi, mục đích và động cơ. Trong đó, lỗi là dấu hiệu bắt buộc. Có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Mục đích là kết quả cuối cùng mà chủ thể của VPHC mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi.
Đôi khi, pháp luật cho rằng mục đích là dấu hiệu phải có của một vài loại VPHC. Chính vì vậy, khi xử phạt cá nhân, tổ chức về loại VPHC này cần xác định rõ hành vi của họ đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không bên cạnh xem xét các dấu hiệu khác. Chủ thể của VPHC: Là các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC và phải có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật. Để xác định cá nhân có hành vi VPHC khi cá nhân đó đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự.
Khác với hình sự chủ thể chỉ có thể xác định là cá nhân. Đối với dân sự và hành chính chủ thể của VPHC được xác nhận là cá nhân, tổ chức song cơ bản cũng có điểm khác nhau. Nếu như chủ thể trong VPHC chịu trách nhiệm trước nhà nước thì trong dân sự đó là mối liên hệ giữa hai bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự dưới sự cưỡng chế của Nhà nước. Khách thể của VPHC: Dấu hiệu khách thể để nhận biết VPHC là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lí hành chính Nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế 1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Nhìn chung, VPHC là loại vi phạm pháp luật có tính nguy hại không lớn cho xã hội. Tuy vậy, chúng lại có tính đa dạng và xảy ra phổ biến trong xã hội; VPHC trong lĩnh vực y tế không phải trường hợp ngoại lệ. Do đó, 9 việc nhận diện và xử lý loại vi phạm này là công việc phức tạp, cần có sự phối hợp và nỗ lực của nhiều loại cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Dựa vào định nghĩa VPHC, có thể khẳng định, VPHC trong lĩnh vực y tế là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, xâm phạm trực tiếp đến hệ thống quy định của pháp luật trong quản lý nhà nước về y tế. Những hành vi vi phạm này gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, cộng đồng và cá nhân khác trong xã hội tuy nhiên mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm. Vi phạm các quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế được quy định cụ thể tại Điều 1 Nghị định 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, Điều 1 Nghị định 178/2013/NĐ-CP của Chính phủ về an toàn thực phẩm… Từ những văn bản quy phạm pháp luật này, có thể xác định các hành vi VPHC trong lĩnh vực y tế bao gồm: 1.Vi phạm các quy định về y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS 2.Vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh 3.Vi phạm các quy định về dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế 4.Vi phạm các quy định về bảo hiểm y tế 5.Vi phạm các quy định về dân số 6.Vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm 1. Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Để khẳng định một hành vi có phải là hành vi VPHC trong lĩnh vực y tế hay không bắt buộc phải xác định các dấu hiệu pháp lý cấu thành được mô tả trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về VPHC, mà trực tiếp là văn bản xử lý VPHC trong lĩnh vực y tế.
Về tổng thể, VPHC trong 10 lĩnh vực y tế bao gồm bốn thành tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Về mặt khách quan: là hành vi VPHC về y tế. Những hành vi này đã trực tiếp xâm phạm đến những quy tắc quản lý hành chính nhà nước về y tế. Trong mối quan hệ nhân quả của hành vi VPHC này không nhất thiết phải đặt ra thiệt hại cụ thể trên thực tế.
Bởi lẽ, chỉ cần là hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm, thì dù có thiệt hại hay không vẫn là một hành vi VPHC. Vì vậy, những căn cứ pháp lý hành chính là “điểm tựa” vững chắc để đưa ra cơ sở vi phạm và đi đến kết luận một hành vi được coi là hành vi VPHC về y tế. Từ đó, chủ thể quản lý hành chính nhà nước sẽ có biện pháp cụ thể, phù hợp để áp dụng cho từng trường hợp vi phạm với những biện pháp xử phạt khác nhau.