Chương 1: Những vấn đề lý luận về công ty chứng khoán, vi phạm pháp luật của công ty chứng khoán và pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán ở Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN, VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Để thị trường này hoạt động và phát triển thì một điều kiện không thể thiếu là có sự tham gia của các chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng khoán và công ty chứng khoán là một trong những chủ thể kinh doanh chứng khoán có vị trí quan trọng. Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Bởi lẽ, CTCK là cầu nối giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành chứng khoán. Đây là tổ chức trung gian đóng vai trò kết nối và thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán trên thị trường chứng khoán.
CTCK là chủ thể làm nhiệm vụ cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, một bên có nhu cầu về vốn và một bên là các nhà đầu tư có các khoản tiền nhàn rỗi. Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả. Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành. Hơn nữa, với nghiệp vụ chuyên môn cao và đội ngũ nhân viên lành nghề, CTCK còn là trung gian về thông tin, cung cấp thông tin tư vấn, các sản phẩm nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư lựa chọn được các chứng khoán cho danh mục đầu tư của mình, giúp nhà đầu tư giảm được chi phí và thời gian 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giao dịch.
CTCK được hiểu khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Cụ thể, pháp luật của mỗi nước đưa ra khái niệm CTCK như sau: Theo Luật Chứng khoán nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 19/12/1998, đưa ra định nghĩa công ty chứng khoán như sau: “ CTCK là một công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần làm nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán”. Còn Luật Chứng khoán và Giao dịch Hàn Quốc thì quy định: “ CTCK là công ty cổ phần được Bộ Tài chính và kinh tế cấp phép kinh doanh chứng khoán”. Luật Chứng khoán Thái Lan định nghĩa CTCK là: “ CTCK là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hữu hạn đại chúng hoặc tổ chức tài chính được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán”.
Luật Chứng khoán Nhật Bản thì quy định: “CTCK là bất kỳ một công ty cổ phần nào đó được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp phép kinh doanh chứng khoán”. Luật Chứng khoán của Liên minh Châu âu EU mở rộng các hình thức pháp lý, loại hình doanh nghiệp được phép kinh doanh lĩnh vực chứng khoán quy định: “Công ty chứng khoán là pháp nhân hoặc không phải pháp nhân thực hiện các dịch vụ đầu tư kinh doanh chứng khoán cho bên thứ ba như là nghiệp vụ của chính mình”. Luật chứng khoán Mỹ cho phép CTCK được thành lập dưới cả ba hình thức đó là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Tựu chung lại, pháp luật của các quốc gia đều quy định rõ về hình thức pháp lý của CTCK có thể là mô hình trách nhiệm hữu hạn, cổ phần hoặc hợp danh được cấp phép kinh doanh và hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Không ngoại lê, pháp luật Việt Nam về chứng khoán đưa ra định nghĩa CTCK tại Điều 2 khoản 13 Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tháng 7 năm 1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán là: “Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán”. Nghị định này cũng quy định rõ công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng các điều kiện theo pháp luật quy định và được Ủy ban chứng khoán cấp phép hoạt động. Trên cơ sở kế thừa Nghị định 48/1998/NĐ-CP, ngày 24 tháng 04 năm 2007 Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 27/2007/QĐ- BTC về việc Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán đưa ra khái niệm công ty chứng khoán bị thu hẹp hơn so với Nghị định 48/1998/NĐ-CP, cụ thể: “Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Tiếp đó, tại Thông tư 210/2012/TT-BTC ngày 30 tháng 11 năm 2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thành lập và hoạt động công ty chứng khoán tại khoản 1 Điều 2 có định nghĩa công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
Hiện nay, Luật Chứng khoán năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2010 không đưa ra khái niệm về công ty chứng khoán. Mới đây, tại Điều 2.1 Nghị định 86/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 07 năm 2016 quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán có đưa ra định nghĩa về công ty chứng khoán như sau: Công ty chứng khoán là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: Môi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán. Qua các quy định cụ thể của pháp luật chứng khoán có thể khái quát định nghĩa về CTCK như sau: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành lập, hoạt động theo quy định pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.2 Đặc điểm Công ty chứng khoán là loại hình doanh nghiệp được thành lập, hoạt động trên cơ sở các quy định của pháp luật doanh nghiệp và Luật chứng khoán nên có đầy đủ đặc điểm của doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, do công ty chứng khoán kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù nên có những đặc điểm pháp lý riêng biệt giúp chúng ta nhận biết và phân biệt chúng với các doanh nghiệp kinh doanh khác, cụ thể: Thứ nhất, về hình thức tổ chức pháp lý: Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hai hình thức phổ biến là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.
Pháp luật các nước đều có những quy định riêng về loại hình, hình thức pháp lý của CTCK để phù hợp với tính chất thị trường tài chính của từng nước. Nhưng hình thức chủ yếu đó là theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Quy định công ty chứng khoán là trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần vì đây là mô hình phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có quy chế pháp lý, tổ chức hoạt động chặt chẽ và đảm bảo cho công tác quản lý, giám sát hoạt động của CTCK so với các loại hình doanh nghiệp khác. Bởi lẽ, loại hình này có nhiều ưu điểm trong việc huy động vốn so với công ty hợp danh, khả năng quản trị và giảm thiểu rủi ro tốt, chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên trong số vốn góp.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, hình thức tổ chức của công ty chứng khoán cũng giống luật chứng khoán của nhiều quốc gia. Công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp do Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản không được phép kinh doanh chứng khoán vì những loại hình này về mặt tổ chức quản lý không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh chứng khoán đó là đảm bảo độ tin cậy cao và hạn chế rủi ro. Thứ hai, về lĩnh vực ngành nghề kinh doanh.
Công ty chứng khoán có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh dịch vụ chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Chủ thể này kinh doanh chứng khoán dưới một trong các hình thức gồm môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và các nghiệp vụ chứng khoán khác được nhà nước cho phép. Pháp luật các nước thường quy định cụ thể từng nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà CTCK được thực hiện hoặc quy định chỉ cho phép CTCK thực hiện một số hoạt động nhất định mà không được thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Hoặc nếu đã thực hiện hoạt động tự doanh thì không được hoạt động môi giới và ngược lại.
Chẳng hạn, Luật Chứng khoán Trung Quốc quy định CTCK đa năng có thể kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán gồm nghiệp vụ môi giới, nghiệp vụ tự doanh, nghiệp vụ chứng khoán khác được cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc Vụ viện phê chuẩn và quy định công ty môi giới chứng khoán chỉ được phép chuyên thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, cũng có nước cho phép thực hiện tất cả các loại hình kinh doanh trong một công ty chứng khoán nhưng phải phải bảo đảm tách biệt các hoạt động kinh doanh này như pháp luật Mỹ và Việt Nam. Ở Việt Nam, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.