Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý tài sản thế chấp tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam. 4 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát về thế chấp tài sản tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại Ở Việt Nam, khái niệm thế chấp tài sảnđược định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt như sau: “Thế chấp [tài sản] dùng làm vật bảo đảm thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kỳ hạn”1. Khái niệm thế chấp vốn có nguồn gốc Hán Việt. Trong đó, “thế là bỏ đi, thay cho; còn chấp là cầm, giữ, bắt” 2.
Từ đó, ta có thể hiểu đơn giản thế chấp tài sản chính là cách thức dùng tài sản để bảo đảm, làm tin thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ nào đó. Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên ghi nhận khái niệm thế chấp tài sản trong Bộ luật Dân sự 1995 (BLDS), được kế thừa, tiếp tục phát triển và có những sự thay đổi trong quá trình xây dựng pháp luật dân sự là BLDS 2005 và BLDS 2015. BLDS 1995 quy định tại Điều 346 như sau: “Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền.” BLDS 2005 quy định tại Điều 342 như sau: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp.” BLDS 2015 quy định tại Điều 317 như sau: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ.
Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.” Như vậy, BLDS 1995 nhấn mạnh đối tượng duy nhất của thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản. Đến BLDS 2005, đối tượng của thế chấp tài sản đã mở rộng hơn, bao gồm những tài sản là bất động sản hoặc động sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp; và quyền chuyển giao tài sản đã trở thành tiêu chí để phân biệt các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Cho đến BLDS 2015, nhà làm luật 1 Trung tâm Từ điển học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. 2 Đào Duy Anh (2000), Từ điển Hán Việt, Nxb.
Khoa học xã hội, tr. 5 đã làm rõ việc bên thế chấp có thể dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính mình hoặc nghĩa vụ của người khác3. Trong khoa học pháp lý, các học giả có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi tìm hiểu về bản chất của thế chấp. Dưới góc độ là một giao dịch dân sự: “Bản chất của quan hệ thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng là quan hệ hợp đồng.
Mối quan hệ giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp được thể hiện: bên thế chấp dùng tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp, tuy nhiên bên nhận thế chấp không trực tiếp tác động vào tài sản đó. Theo hợp đồng tín dụng, bên nhận thế chấp có quyền kiểm tra việc khai thác, sử dụng tài sản thế chấp của bên đi vay, tuy nhiên quyền kiểm tra này nhiều khi chưa thật sự đem lại hiệu quả trong trường hợp khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, với cách tiếp cận này biện pháp thế chấp sẽ không bảo đảm được tuyệt đối rủi ro cho bên nhận thế chấp là các TCTD và ngân hàng thương mại. Ngoài ra còn một số học giả khác tiếp cận thế chấp dưới góc độ là một loại vật quyền bảo đảm: “Thế chấp là một biện pháp bảo đảm mang tính chất đối vật, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện đối với tất cả các bên trong quan hệ thế chấp”.
Tính chất vật quyền cho phép các ngân hàng thương mại có quyền tác động trực tiếp đến tài sản thế chấp mà không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thể nào. Cụ thể, bên nhận thế chấp có quyền truy đòi tài sản thế chấp từ sự chiếm hữu của bất kỳ ai, và bên nhận thế chấp cũng có quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thế chấp đó4. Pháp luật một số quốc gia trên thế giới ghi nhận khái niệm thế chấp tài sản như sau: Theo pháp luật Pháp, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp năm 1804 dành một chương quy định về quyền thế chấp (Chương III, thiên XVIII), Điều 2114 quy định cụ thể: “Thế chấp là một quyền tài sản trên bất động sản được sử dụng bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.Về bản chất, quyền thế chấp không thể phân chia và tồn tại trên tất cả các bất động sản thế chấp, trên từng bất động sản thế chấp và trên mỗi phần của bất động sản ấy. Dù bất động sản ấy được chuyển dịch sang cho người 3 Lê Văn Lợi (2019), Thế chấp và xử lý tài sản thế chấp, luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
4 Đào Ngọc Sơn (2018), Thế chấp tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 6 khác, việc thế chấp đã xác định trên bất động sản đó vẫn tồn tại”. Như vậy, theo pháp luật Pháp thì thế chấp là một quyền tài sản trên bất động sản và động sản thì không thể đem ra thế chấp. Song quyền thế chấp vẫn tồn tại và không thể phân chia, dù bất động sản đó có được chuyển dịch cho một người khác.
Theo Luật dân sự và thương mại Thái Lan (có hiệu lực từ năm 1925) quy định thế chấp tài sản là một hợp đồng để bảo đảm thưc hiện nghĩa vụ. Quy định cụ thể tại Điều 703: “Bất cứ loại bất động sản nào cũng có thể được thế chấp.” Theo pháp luật Dân sự Nhật Bản năm 1896, thế chấp cũng được coi là một chế định bảo đảm nghĩa vụ nhưng không có việc chuyển giao tài sản thế chấp, quy định: “Đối tượng của thế chấp được xác định theo ý chí của các bên và quy định của pháp luật về quyền tài sản.” Như vậy, theo pháp luật một số nước thế chấp tài sản có hai loại đối tượng. Một số quốc gia công nhận đối tượng duy nhất của thế chấp phải là bất động sản. Còn một số quốc gia khác lại cho rằng đối tượng của thế chấp có thể là động sản hoặc bất động sản nhưng quy định đặc điểm không chuyển giao tài sản để phân biệt thế chấp và các biện pháp bảo đảm khác5.
Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản có nguồn gốc từ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự. Hai biện pháp bảo đảm được áp dụng phổ biến trong giao dịch dân sự là cầm cố tài sản và thế chấp tài sản. Đối với của cầm cố tài sản bắt buộc có sự chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố. Đối với thế chấp tài sản không phải là sự chuyển giao tài sản mà chỉ chuyển giao các giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản được đem ra thế chấp.
Có thể thấy rằng, thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay là một dạng bảo đảm đối vật, nhằm hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng. Bên nhận thế chấp có quyền chi phối đối với tài sản thế chấp kể từ khi hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực và có quyền định đoạt đối với tài sản đó khi có sự vi phạm nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Như vậy thế chấp tài sản đã sớm được ghi nhận là một biện pháp bảo đảm nhằm thực hiện nghĩa vụ trong các quan hệ dân sự. Còn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, thế chấp tài sản được lựa chọn làm biện pháp bảo đảm 5 Nông Thị Bích Diệp, (2006), Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật dân sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
7 rất phổ biến, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay. Nếu như trong pháp luật dân sự, việc thế chấp tài sản thông thường có thể áp dụng để bảo đảm cả nghĩa vụ hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng thì thế chấp tài sản trong lĩnh vực ngân hàng chỉ có thể được phát sinh, áp dụng đối với nghĩa vụ trả nợ của người đi vay và phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Đặc điểm của thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại Từ khái niệm trên có thể thấy biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản mang những đặc điểm sau: Thứ nhất chủ thể thế chấp tài sản gồm: bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Với tư cách là một giao dịch dân sự, hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay của ngân hàng thương mại được xác lập và thực hiện bởi các chủ thể là bên thế chấp và bên nhận thế chấp.
Các chủ thể tham gia quan hệ thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay với tư cách và mục đích khác nhau. Bên thế chấp tham gia quan hệ thế chấp với tư cách là bên đi vay hoặc bên thứ ba, dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay của khách hàng đi vay đối với bên nhận thế chấp là các ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại tham gia với tư cách là chủ nợ (bên nhận thế chấp), nhằm mục đích thực thi quyền chủ nợ với bên có nghĩa vụ Bên thế chấp là khách hàng hay còn gọi là bên đi vay hoặc bên thứ ba, bao gồm: cá nhân, tổ chức.