MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại. Sự phát triển vượt bậc của xã hội và khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của con người đã làm cho môi trường sống của chúng ta đang xấu dần đi. Thiên tai, lũ lụt, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên….Xảy ra thường xuyên, nghiêm trọng hơn, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Đứng trước hiện trạng môi trường sống đang bị suy thoái, sức khỏe của con người cũng bị đe dọa.
Nhiều bệnh viện đã được thành lập nhằm phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân và gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, vấn đề môi trường hiện nay tại các bệnh viện là bài toán khó cho các cơ quan chức năng. Chất thải nói chungvà nước thải nói riêng tại các bệnh viện hầu hết vẫn chưa được xử lý, nên không đạt tiêu chuẩn, cũng như chưa có chiến lược quản lý một cách có hiệu quả. Trong thời gian gần đây, chỉ một số ít bệnh viện là có đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải.
Đa phần còn lại cho nước thải chảy vào hệ thống thoát nước chung của thành phố, thậm chí chảy tràn trên mặt đất gây ô nhiễm đất, làm mất vẻ đẹp mỹ quan của bệnh viện nói riêng và thành phố nói chung. Với xu thế hội nhập thế giới của Việt Nam như hiện nay việc đầu tư cho chiến lược bảo vệ môi trường nói chung và xây dựng các hệ thống xử lý nước thải nói riêng là một việc làm hết sức thiết thực. Không chỉ riêng các công ty, các doanh nghiệp hay các khu công nghiệp có nước thải ô nhiễm được thải ra từ quá trình sản xuất mà nước thải từ bệnh viện cũng phải được xử lý trước khi thoát ra môi trường. Chính vì thế nước thải ra từ các hoạt động của bệnh viện cần phải được xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép.
Chính vì những lý do đó mà đề tài: “Xử lý nƣớc thải bệnh viện bằng bể tự hoại kết hợp bãi lọc trồng cây dòng ngang và ứng dụng tính toán mô hình xử lý cho một bệnh viện.” đã hình thành với mong muốn góp phần bảo vệ môi trường và hạn chế ô nhiễm do nước thải y tế gây ra. Sinh viên: Đinh Thị Thiên Ngân - MT1501 1 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.Khái niệm về nƣớc thải bệnh viện[3],[7] Theo QCVN 28:2010/BT NMT- QCKTQG về nước thải y tế thì: Nước thải y tế là dung dịch thải từ các cơ sở khám, chữa bệnh. Nguồn tiếp nhận nước thải là các nguồn: nước mặt, vùng nước biển ven bờ, hệ thống thoát nước, nơi mà nước thải y tế thải vào. Nước thải bệnh viện chủ yếu 80% là nước thải sinh hoạt của bệnh nhân, thân nhân nuôi người bệnh và cán bộ công nhân viên trong bệnh viện.
Ngoài ra, 20% còn lại là nước từ phẫu thuật, dịch tiết, máu, mủ, khám chữa bệnh, xét nghiệm, giặt giũ và từ các công trình phụ trợ (thiết bị xử lý khí thải, giải nhiệt máy phát điện dự phòng, giải nhiệt cho các máy điều hòa không khí …) Do đó, nước thải bệnh viện chủ yếu ô nhiễm các hợp chất hữu cơ, vi sinh và chứa nhiều vi trùng gây bệnh. Lượng nước cấp và nước thải của bệnh viện có thể tham khảo bảng sau: Bảng 1.Tiêu chuẩn nƣớc cấp và lƣơng nƣớc thải bệnh viện.[7] STT Quy mô bệnh viện Tiêu chuẩn nƣớc cấp Lƣợng nƣớc thải (số giƣờng bệnh) (L/giƣờng/ngày) (m3/ngày) 1 <100 700 70 2 100-300 700 100-200 3 300-500 600 200-300 4 500-700 600 300-400 5 >700 600 >400 6 Bệnh viện kết hợp 1000 >500 Nghiên cứu và đào tạo 1.Tính chất và thành phần của nƣớc thải bệnh viện[8],[12],[13] -Tính chất: Nước thải bệnh viện không chỉ ô nhiễm thông thường (ô nhiễm khoáng chất và các chất hữu cơ) còn có chứa những tác nhân gây bệnh như vi trùng, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun, virus. Chúng đặc biệt nhiều nếu ở bệnh viện có khoa truyền nhiễm. Còn gây nguy hiểm hơn về phương diện dịch tễ là nước thải của những bệnh viện truyền nhiễm chuyên khoa, các trại điều dưỡng bệnh lao và những cơ sở lây nhiễm khác.
Chế độ nước thải của bệnh viện không ổn định theo thời gian trong ngày, cũng như theo ngày trong tuần mà phụ thuộc vào cấp và quy mô bệnh viện. Sinh viên: Đinh Thị Thiên Ngân - MT1501 2 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng Đối với các hoạt động ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh, giặt giũ giống như nước thải sinh hoạt nhưng nước thải bệnh viện có mức độ ô nhiễm cao hơn nước thải sinh hoạt do: công việc giặt giũ quần áo bệnh nhân, quần áo các cán bộ, bác sĩ, chăn ga, gối được diễn ra thường xuyên. Việc giặt giũ thường được sử dụng các loại thuốc tẩy chuyên dụng do phải tẩy nhiều chất bẩn đặc biệt như máu, mủ, dịch.Do vậy nước thải bệnh viện chứa 1 hàm lượng lớn các chất hóa học tẩy rửa nồng độ cao. Hơn nữa, các bệnh nhân trong bệnh viện thường có chế độ ăn uống cao hơn so với bình thường do phải bổ sung các chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng nên nước thải từ hoạt động ăn uống trong bệnh viện có hàm lượng chất hữu cơ cao.
Đó là 1 vài nguyên nhân tiêu biểu khiến cho tính chất của nước thải bệnh viện khác với nước thải khác. - Thành phần: + Nước thải sinh hoạt ở bệnh viện: Cũng giống như nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư: có chứa các cặn bã, các chất hữu cơ hòa tan (các chỉ tiêu BOD và COD), các chất dinh dưỡng (nitơ, phốt pho) và vi trùng. Chất lượng nước thải loại này vượt quá tiêu chuẩn quy định hiện hành và có khả năng gây ô nhiễm môi trường hữu cơ, làm giảm lượng oxy hòa tan (DO) vốn rất quan trọng đối với đời sống của thủy sinh vật tại nguồn tiếp nhận. + Nước thải do hoạt động khám và điều trị bệnh: Chứa nhiều vi trùng gây bệnh nhất trong số các dòng thải nước của bệnh viện.
Nước thải này phát sinh từ nhiều khâu và quá trình khác nhau trong bệnh viện: Giặt, tấy quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn mền, ga, trải giường cho các giường bệnh, súc rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi, vệ sinh lau chùi làm sạch các phòng bệnh và phòng làm việc…Tùy theo từng khâu và quá trình cụ thể mà tính chất nước thải và mức độ ô nhiễm khi đó sẽ khác nhau. Sinh viên: Đinh Thị Thiên Ngân - MT1501 3 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng Bảng1.Thành phần và tính chất nƣớc thải bệnh viện[8] Hiện trạng TCVN So sánh nƣớc thải bệnh 3782-2004 với Stt Thông số đánh giá viện Giá trị giới hạn TCVN Khoảng Giá trị Mức I Mức II (Số lần) giá trị điển hình 1 pH - - 6.5 - 2 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) : mg/L 100-200 180 50 100 1-2 3 BOD5 (200C) : mg/L 120-150 170 30 50 2.0 - (Tính theo H2S) 6 Amoni : mg/L 30-60 40 5 10 3-6 (Tính theo N) 7 Nitrat : mg/L - - 30 50 - (Tính theo N) 8 Dầu mỡ động, thực vật - - 10 20 - : mg/L 9 Octophosphat : mg/L 10-30 25 6 10 1-3 10 Tổng coliforms MPN/100ml 106 -109 106 -107 3000 5000 200- 2.105 11 Vi khuẩn gây Bệnh đƣờng ruột Salmonella - - KPHĐ KPHĐ - Shigella KPHĐ KPHĐ Vibria cholera KPHĐ KPHĐ 12 Tổng hoạt độ - - 0.1 - Phóng xạ α: Bq/L 13 Tổng hoạt độ - - 1.0 - Phóng xạ β: Bq/L - KPHĐ: Không phát hiện được. Sinh viên: Đinh Thị Thiên Ngân - MT1501 4 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng - Mức I: Nước thải bệnh viện đổ vào thủy vực với các mục đích khác. - Mức II: Nước thải bệnh viện đổ vào hơi chỉ định, hệ thống thoát nước thành phố - MPN/100ml (Most Probable Number 100 mililiters): Số có xác suất cao nhất trong 100ml.
- “-”: Chưa có số liệu.Các thông số đánh giá chất lƣợng nƣớc thải bệnh viện[2],[11] 1.Chất rắn Chất rắn là những thành phần không hòa tan trong nước. Về bản chất, chúng có thể là những hạt chất hữu cơ, vô cơ, hoặc là những xác của VSV nguyên sinh động vật hay phiêu sinh vật. Các chất rắn có trong nước được đánh giá qua những thông số cơ bản sau: Tổng số chất rắn (TS): Tổng số chất rắn được xác định bằng phương pháp đo trọng lượng khô còn lại sau khi đem sấy khô 1 lít ở nhiệt độ 103ºC đến trọng lượng không đổi. Tổng số chất rắn được biểu thị bằng mg/l hay g/l.
Chất rắn lơ lửng (SS): Trong nước thải gồm các chất không tan hoặc lơ lửng và các hợp chất đã được hòa tan vào trong nước. Hàm lượng chất rắn lơ lửng được xác định bằng cách lọc một thể tích xác định mẫu nước thải qua giấy lọc và sấy khô ở 105ºC đến trọng lượng không đổi. Độ chênh lệch khối lượng giữa trước khi lọc mẫu và sau khi lọc mẫu trong cùng một điều kiện cân chính là lượng chất rắn lơ lửng có trong một thể tích mẫu đã được xác định. Một số chất rắn lơ lửng có khả năng lắng rất nhanh, tuy nhiên các chất rắn lơ lửng ở kích thước hạt keo thì lắng rất chậm chạp hoặc hoàn toàn không thể lắng được.
Chất rắn hòa tan (DS): Các chất rắn hòa tan là những chất tan được trong nước, bao gồm cả chất vô cơ lẫn chất hữu cơ. Hàm lượng các chất hòa tan DS (Dissolved Solids) là lượng khô của phần dung dịch qua lọc khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc có giấy lọc sợi thủy tinh rồi sấy khô ở 105ºC cho tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L. DS = TS – SS 1.Mùi Việc xác định mùi của nước thải ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt là trước các phản ứng gay gắt của dân chúng đối với các công trình xử lý nước thải không được vận hành tốt.
Mùi của nước thải còn mới thường không gây ra các cảm giác khó chịu, Sinh viên: Đinh Thị Thiên Ngân - MT1501 5 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng nhưng một loạt các hợp chất gây mùi khó chịu sẽ được tỏa ra khi nước thải bị phân hủy sinh học dưới các điều kiện yếm khí. Một số hợp chất gây mùi cho nước thải: H2S có mùi trứng thối, sắt và mangan có mùi tanh, mùi hóa chất khử trùng clo, NH3 có mùi khai.Độ màu Màu của nước thải là do các chất ô nhiễmhoặc do các sản phẩm được tạo ra từ các quá trình phân hủy hữu cơ.