Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI I. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP (DV TCDN) 1. Khái niệm Dịch vụ tài chính: Theo quan điểm của WTO: “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)” Theo quan niệm trên, các loại dịch vụ tài chính đƣợc chia thành các loại cơ bản sau: - Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ dịch vụ bảo hiểm), bao gồm: Dịch vụ tiết kiệm (tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiết kiệm, tín phiếu, trái phiếu); cho vay (tín dụng, thuê mua tài chính, cầm cố thế chấp, cho vay kí quỹ, bảo lãnh thanh toán, chiết khấu giấy tờ có giá); thanh toán (thanh toán, chuyển tiền, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu, …); giao dịch (thị trƣờng tiền tệ, ngoại hối); môi giới và đầu tư (môi giới đầu tƣ chứng khoán,…); tư vấn tài chính.
- Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, bao gồm: các loại hình bảo hiểm trực tiếp (bao gồm cả đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm) về trách nhiệm dân sự, tài sản, con ngƣời,…; sử dụng quỹ bảo hiểm (đầu tƣ nguồn vốn bảo hiểm dƣới các hình thức khác nhau nhƣ đầu tƣ chứng khoán, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT góp vốn,…) và các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm (dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ đánh giá xác suất rủi ro, khiếu nại, đại lý bảo hiểm,…). Khái niệm Dịch vụ tài chính Doanh nghiệp: Phân loại các dịch vụ tài chính theo đối tƣợng khách hàng thì có dịch vụ tài chính dành cho cá nhân và dịch vụ tài chính dành cho doanh nghiệp. Trong khoá luận này, ngƣời viết sử dụng thuật ngữ “Dịch vụ tài chính Doanh nghiệp” (DV TCDN) để chỉ các dịch vụ tài chính cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp. Doanh nghiệp ở đây đƣợc hiểu theo khái niệm trong Luật doanh nghiệp Việt Nam 1999: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Dựa theo cách phân loại trên về dịch vụ tài chính, có thể phân chia DV TCDN thành 4 nhóm cơ bản nhƣ sau: 2.
Các tổ chức cung cấp 2. Ngân hàng thương mại (NHTM) Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay. Các NHTM huy động vốn chủ yếu dƣới dạng: Tiền gửi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT thanh toán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi có kì hạn (time deposits). Vốn huy động đƣợc dùng để cho vay: cho vay thƣơng mại (commercial loans), cho vay tiêu dùng (consumer loans), cho vay bất động sản (mortgage loans) và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phƣơng.1 Hiện nay, NHTM là tổ chức tài chính cung cấp nhiều loại hình dịch vụ tài chính nhất, bao gồm cả các dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp.
Danh mục các DV TCDN mà một NHTM cung cấp không chỉ bao gồm các dịch vụ ngân hàng truyền thống nhƣ: nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, chiết khấu, … mà còn có thể bao gồm các dịch vụ tài chính phi ngân hàng nhƣ: dịch vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán, dịch vụ tƣ vấn tài chính, … Trong bài khoá luận này, ngƣời viết tập trung chủ yếu vào các loại hình DV TCDN do các NHTM cung cấp. Ngân hàng đầu tư DV TCDN mà một ngân hàng đầu tƣ cung cấp chủ yếu là tƣ vấn và bảo lãnh phát hành chứng khoán. Ngoài ra, các ngân hàng đầu tƣ còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho việc hợp nhất hoặc mua lại giữa các công ty. Các ngân hàng đầu tƣ ra đời đầu tiên ở Mỹ, khi các NHTM Mỹ bị cấm không đƣợc tham gia hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
2 Các ngân hàng đầu tƣ nổi tiếng của Mỹ hiện nay là: Goldman, Sachs & Co., Morgan Stanley, Merrill Lynch, Salamon Brothers… Các ngân hàng này không chỉ nổi tiếng ở Mỹ mà còn là những ngân hàng đầu tƣ hàng đầu trên thế giới. Ở Đức tồn tại loại hình ngân hàng đa năng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động của NHTM lẫn ngân hàng đầu tƣ. Ở Việt Nam chƣa có loại ngân hàng này. Các NHTM ở Việt Nam cũng không đƣợc phép trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành chứng 1 Khái niệm NHTM sẽ đƣợc trình bày cụ thể hơn trong phần sau.
2 Theo Luật “Glass Steagall Act 1933”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT khoán, nhƣng đƣợc phép thành lập các công ty chứng khoán hoạt động độc lập để thực hiện các hoạt động nhƣ các ngân hàng đầu tƣ. Công ty tài chính Các công ty tài chính huy động vốn chủ yếu thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hay thƣơng phiếu; đồng thời cung ứng chủ yếu các loại tín dụng trung và dài hạn nhƣ: cho ngƣời tiêu dùng vay tiền để mua sắm đồ đạc, xe hơi, tu bổ nhà hoặc cho các doanh nghiệp nhỏ vay. Ngoài ra, các công ty tài chính còn thực hiện các dịch vụ cầm, giữ hộ và quản lý các chứng khoán, các kim loại quý, … 2.
Công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là các công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là: bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tƣ và tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Đối với các doanh nghiệp, các công ty chứng khoán là một trong những cấu nối dẫn doanh nghiệp tới thị trƣờng chứng khoán. Khi doanh nghiệp cần huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu, công ty chứng khoán có thể trợ giúp bằng cách đứng ra đảm nhận việc bảo lãnh phát hành. Cũng nhƣ vậy, khi doanh nghiệp muốn tăng cƣờng hiệu quả sử dụng vốn bằng cách đầu tƣ vào thị trƣờng chứng khoán thì các công ty chứng khoán cũng là một lựa chọn để đƣợc tƣ vấn cũng nhƣ giúp doanh nghiệp xây dựng danh mục đầu tƣ hiệu quả.
Quỹ đầu tư Các quỹ đầu tƣ là các tổ chức tài chính phi ngân hàng, thu nhận tiền từ một số lƣợng lớn các nhà đầu tƣ và tiến hành đầu tƣ số vốn đó vào các tài sản 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT tài chính có tính thanh khoản dƣới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trƣờng tài chính.1 Nhìn chung, suất sinh lời của các quỹ đầu tƣ thƣờng không cao nên các quỹ đầu tƣ thƣờng hƣớng vào đối tƣợng khách hàng cá nhân, những ngƣời thừa vốn nhƣng ngại rủi ro. Tuy nhiên, đ ầu tƣ vào các quỹ đầu tƣ cũng là một cách giúp doanh nghiệp đa dạng hoá danh mục đầu tƣ hay sinh lời trên đồng vốn tạm thời nhàn rỗi của mình. Ngoài ra, nhiều quỹ đầu tƣ còn cung cấp cả dịch vụ tƣ vấn tài chính cho doanh nghiệp. Tổ chức lưu ký chứng khoán Tổ chức lƣu ký chứng khoán là tổ chức chuyên thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ lƣu ký chứng khoán cho khách hàng là các tổ chức, cá nhân đầu tƣ, sở hữu chứng khoán của các công ty niêm yết trên thị trƣờng.
Các tổ chức có thể tham gia thực hiện dịch vụ lƣu ký chứng khoán phải là các công ty chứng khoán thành viên hoặc các ngân hàng thƣơng mại đƣợc Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc cấp giấy phép hoạt động lƣu ký. Công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm có chức năng chủ yếu là cung cấp phƣơng tiện để bảo vệ các hộ gia đình hoặc các hãng kinh doanh trƣớc những tổn thất về tài chính do những rủi ro nhất định gây ra thông qua việc cung cấp các hợp đồng bảo hiểm, cam kết sẽ bồi thƣờng cho ngƣời mua một khoản tiền nhất định trong trƣờng hợp xảy ra rủi ro. Các doanh nghiệp thƣờng mua bảo hiểm tài sản và tai nạn để hạn chế rủi ro đối với máy móc thiết bị cũng nhƣ các tài sản vật chất của công ty. Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều mua bảo hiểm cho công nhân viên của mình (bảo hiểm sức khoẻ và thƣơng tật hoặc thậm chí, cả bảo hiểm nhân 1 Theo Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán - Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc, T.s Đào Lê Minh (chủ biên) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT thọ).
Đó là một cách đƣa thêm ƣu đãi cho công nhân viên cũng nhƣ khuyến khích tinh thần lao động vì công ty của họ. Các tổ chức, cá nhân hành nghề kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính Nhóm này bao gồm các tổ chức, cá nhân (các công ty kế toán - kiểm toán, các công ty tƣ vấn tài chính, các kiểm toán viên độc lập, …) hành nghề kế toán, kiểm toán và tƣ vấn tài chính, đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán và tƣ vấn tài chính hiện hành. Thông thƣờng, mỗi doanh nghiệp đều có bộ phận kế toán của riêng mình, thực hiện tất cả các nghiệp vụ kế toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có những doanh nghiệp sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài.
Phổ biến là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài nhằm tiết kiệm chi phí hoạt động. Với các dịch vụ kiểm toán, các doanh nghiệp có thể phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay cố ý, phòng ngừa các vi phạm và thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh và sử dụng kinh phí. Các số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp đã đƣợc kiểm toán sẽ là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở doanh nghiệp; cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính Nhà nƣớc xét duyệt quyết toán hàng năm của các doanh nghiệp; cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nƣớc; cho các cổ đông, các nhà đầu tƣ, các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ vủa các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.