CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.Khái niệm, cấu trúc và vai trò của văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1. Văn hóa là một khái niệm mở và phức tạp với nhiều định nghĩa khác nhau. Năm 1952, hai nhà nhân chủng học Kroeber và Kluckhohn đã liệt kê được 164 khái niệm khác nhau về văn hóa.
Không có định nghĩa nào là đúng hay sai một cách tuyệt đối. Đó là lý do cần đưa ra một số định nghĩa khác nhau để xem xét theo các khía cạnh khác nhau.TS Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Theo Federico Mager Zaragoza, tổng giám đốc UNESCO, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã và đang diễn ra qua hàng thế kỷ, nú đó cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó mỗi dân tộc khẳng định bản sắc của mình để tồn tại và phát triển. Theo Edgar Schein (1993), văn hóa là một khuôn mẫu các giả định cơ bản được chia sẻ mà nhóm học được khi nó giải quyết các vấn đề để thích nghi với bên ngoài hay hòa nhập bên trong, mà đã vận hành tốt đủ để được coi là có giá trị và do đó, được dạy cho các thành viên mới.
4 Theo ông Hofstede (1994), nhà tâm lý học người Đan Mạch, thế giới đầy rẫy sự đối đầu giữa người, nhóm người, các tổ chức và các quốc gia với những suy nghĩ, cảm xúc và hành động khác nhau. Văn hóa là sự hình thành nhân cách mang tính tập thể phân biệt các thành viên của nhóm người này với nhóm người khác. Theo nghĩa này, văn hóa bao gồm các hệ thống giá trị và các giá trị là ở giữa các dãy nhà văn hóa. “Văn hóa là các hành vi được học hỏi gồm cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động” (Hofstede, 1996, trang 41).Cũng theo Hofstede, văn hóa có thể được tưởng tượng như một củ hành với nhiều lớp khác nhau: Lớp đầu tiên là những cái do con người tạo ra và các hành vi.
Chúng là những biểu hiện vật chất như kiến trúc hay quy tắc ăn mặc. Lớp thứ hai bao gồm các biểu hiện của hành vi như lễ nghi chào hỏi, bắt tay, hụn… Nú có liên quan tới các giá trị là các quan niệm, tư tưởng được chia sẻ bởi các thành viên của một nền văn hóa về cái gì là tốt, và cái gì là không tốt; liên quan tới các chuẩn mực là các hướng dẫn không chính thống về cái gì là hành vi xã hội chuẩn mực được xem xét trong một nhóm người cụ thể. Lớp thứ ba ám chỉ biểu hiện bằng lời rõ ràng như truyện cười, giai thoại hay thần thoại… Ba lớp này có thể được so sánh và hoàn thiện bởi mô hình tảng băng trôi. Mô hình tảng băng trôi về văn hóa 5 Nguồn: Hofstede (1995) Theo mô hình tảng băng trôi này, lớp bề mặt (surface) liên quan tới những cái do con người tạo ra và các hành vi không bị che giấu.
Các quy tắc ngầm hiểu (unspoken rules) là các biểu hiện hành vi được hiểu ngầm ít hay nhiều. Và các quy tắc tiềm thức (unconcious rules) thể hiện những thứ mà người ta có thể không nghĩ đến. Trong số các định nghĩa trên, định nghĩa và cách phân chia lớp văn hóa của Geert Hofstede là hữu ích hơn cả để tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là quan niệm được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây nhưng vẫn có nhiều cách khác nhau để định nghĩa văn hóa doanh nghiệp.
Đó là vỡ nú bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, vị trí địa lý, các sự kiện xảy ra làm ảnh hưởng trong tiến trình lịch sử của công ty, đặc tính của cỏc nhõn viờn… Dưới đây là một số cách giải thích về văn hóa doanh nghiệp.L, văn hóa doanh nghiệp thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài., văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, định nghĩa được chấp nhận phổ biến hơn cả là định nghĩa văn hóa doanh nghiệp của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”. Như vậy có thể nói nếu doanh nghiệp là máy tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ điều hành và không thể nói doanh nghiệp này có văn hóa hay không có văn hóa. Thực tế, văn hóa tồn tại khách quan và doanh nghiệp nào cũng có văn hóa của 6 riêng mình, chỉ có điều văn hóa được thể hiện như thế nào và doanh nghiệp đú cú phát hiện ra những giá trị tốt để phát huy và những giá trị chưa tốt để thay đổi không.
Phân loại văn hóa doanh nghiệp.1 Phân chia theo phân cấp quyền lực. Mô hình văn hóa nguyên tắc. Mô hình văn hóa nguyên tắc là loại hình văn hóa doanh nghiệp dựa trên những nguyên tắc và quy định. Quyền lực trong doanh nghiệp đi từ những vị trí mà người lãnh đạo đang đảm nhiệm và áp dụng một các công bằng các nguyên tắc và qui định.
Vai trò và trách nhiệm của các thành viên từ cấp lãnh đạo đến nhân được xác định một cách rõ ràng. Việc thực thi xem xét dưới góc độ của từng người làm việc có hiệu quả ra sao trong phạm vi các hệ thống và quy trình đó. Mô hình này thường được áp dụng trong những doanh nghiệp lớn như các Ngân hàng thương mại – nơi có yêu cầu và khả năng giải quyết các yêu cầu giao dịch của hàng ngàn, hàng chục ngàn khách hàng với nhiều thủ tục và nguyên tắc để hoạt động một cách nhịp nhàng và hiệu quả. Mô hình văn hóa quyền hạn.
Đây là mô hình văn hóa doanh nghiệp mà trong đó quyền lực xuất phát từ quyền lực của nhà lãnh đạo, họ thường mạnh mẽ và có sức thu hút, lôi cuốn cộng đồng. Mụ hình văn hóa này thường được xây dựng trong các tổ chức nhỏ hơn, nhưng Công ty Microsoft và biểu tượng của Bill Gate, Công ty Honda với Solchino Honda… Mô hình văn hóa đồng đội. Đây là mô hình văn hóa doanh nghiệp mà sự hỗ trợ lần nhau và hợp tác trong nội bộ doanh nghiệp được coi là những giá trị rất quan trọng. Những quyết định của doanh nghiệp đưa ra dựa trên những ý kiến của cán hộ thừa hành hơn là do các nhà lãnh đạo và quản lý.
Sự thực thi công việc được đo lường về mặt mỗi cá nhân đóng góp cho tổ chức như thế nào. 7 Mô hình này được áp dụng dạng văn hóa này thông qua những vòng chất lượng hoặc nhóm cán bộ được trao nhiệm vụ nghiên cứu cà thực hiện hệ thống quản lý và cải thiện chất lượng sản phẩm. Mô hình văn hóa sáng tạo. Mô hình văn hóa sáng tạo không cho phép quy trình hoạt động và cảm nghĩ của các thành viên dừng lại ở những kết quả được, mà sự sáng tạo, thành công và hăng hái trong công việc là những giá tri quan trọng luôn theo sát với dạng văn hóa này.
Mọi người sẽ làm việc liên tục với ý thức tự giác cao và sẵn sàng hy sinh nhu cầu cá nhân của họ cho tổ chức. Mồ hình văn hóa này sử dụng cơ chế tự do đối với các chuyên gia, chuyên viên. Mô hình văn hóa này thường được dùng cho cỏc cụng tý như các công ty thực hiện các dự ỏn… 1. Phân theo cơ cấu và định hướng về con người và nhiệm vụ.
Phân theo mô hình cơ cấu và định hướng về con người và nhiệm vụ Trompenaars đã nghiên cứu và đưa ra 4 loại hình văn hóa khác nhau: Người theo chủ nghĩa bình quân Con Nhiệm vụ người Hệ thống thứ bậc Hình 1.2: Mô hình văn hóa doanh nghiệp theo Trompenaars 8 Nguồn: Chinh phục các đợt sóng văn hóa, Fons Trompenaars và Charles Hampden – Turner, trang 269. Mô hình văn hóa gia đình Mô hình văn hóa gia điỡnh là dạng văn hóa doanh nghiệp hướng quyền lực, trong đó người lãnh đạo đóng vai trò như một người cha biết nên làm gì và biết điều gì là tốt cho con mình. Đây là loại quyền lực ôn hòa và thân thiện nên mô hình văn hóa gia đình mang đến môi trường làm việc giống như trong một gia đình. Điển hình của văn hóa gia đình là văn hóa ở các công ty của Nhật Bản.
Văn hóa doanh nghiệp theo mô hình gia đình có xu hướng trở thành một môi trường khép kín. Lượng thông tin càng nhiều, tiểu sử, truyền thống, tập tục gia đình càng phong phú, sợi dây liên hệ càng bền chặt thì môi trường càng khép kín, người ngoài càng cảm thấy khó trở thành thành viên hay biết cách cư xử hợp lý. Trong mô hình gia đình, mối quan hệ có chiều hướng khuếch tán tức người cha có ảnh hưởng trong mọi trường hợp dù họ có hiểu biết về các vấn đề hay không. Quyền lực và sự phân biệt địa vị là điều hoàn toàn tự nhiên, phẩm chất của nhà lãnh đạo không phải ở chỗ họ có hoàn thành nhiệm vụ hay không, người cha vẫn là người cha dù họ bỏ mặc công việc.
Doanh nghiệp theo mô hình văn hóa gia đình thiên về trực giác hơn là về trình độ kiến thức, quan tâm nhiều đến phát triển con người hơn là triển khai hay sử dụng con người, kiến thức cá nhân được đánh giá cao hơn kinh nghiệm cá nhân, ai thực hiện quan trọng hơn là cái được thực hiện. Mô hình văn hóa gia đình gặp khó khăn với các tổ chức nhóm dự án hay cơ cấu quyền lực dạng ma trận do có sự phân quyền. Trong văn hóa gia đình, sự thiên vị người quen được coi là củng cố thờm cỏc chuẩn mực. Mô hình văn hóa gia đình có xu hướng bền vững khi môi trường chung gặp khủng hoảng.
Hạn chế của mô hình văn hóa gia đình: không tìm kiếm được nguồn nhân lực có năng lực hay trình độ cao từ bên ngoài.