Chương 1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ XÂY DỰNG VĂN HOÁ AN TOÀN TẠI NƠI LÀM VIỆC 1. Tổng quan về an toàn, vệ sinh lao động 1. Một số khái niệm cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động 1. An toàn, vệ sinh lao động Từ năm 1995, khi Bộ luật Lao động ra đời và có hiệu lực, thuật ngữ "An toàn, vệ sinh lao động" bắt đầu được sử dụng rộng rãi hơn.
Tên gọi "An toàn lao động, vệ sinh lao động" được sử dụng chính thức cho tiêu đề của chương IX trong Bộ luật Lao động. Luật “An toàn, vệ sinh lao động” đã được Quốc hội khóa 13 thông qua tại kỳ họp thứ IX (tháng 5 - 6/2015). Hiện nay, trong các văn bản pháp luật cũng như trong thực tế thì thuật ngữ an toàn, vệ sinh lao động đã được sử dụng thường xuyên. Đặc biệt trong giao dịch quốc tế, chúng ta thường sử dụng thuật ngữ an toàn, vệ sinh lao động để phù hợp với cách sử dụng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và của nhiều nước trên thế giới, xuất phát từ thuật ngữ bằng tiếng Anh là "Occupational Safety and Health" và thường viết tắt là OSH.
Bảo hộ lao động (hay an toàn, vệ sinh lao động) là các hoạt động đồng bộ trên các mặt pháp luật, tổ chức quản lý, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho con người trong lao động. Kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động bao gồm kỹ thuật an toàn lao động và kỹ thuật vệ sinh lao động. Kỹ thuật an toàn lao động là giải pháp về mặt kỹ thuật để phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Kỹ thuật vệ sinh lao động là giải pháp về mặt kỹ thuật để phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.
Nói cách khác an toàn lao động chính là giải pháp 8 kỹ thuật để không xảy ra tai nạn trong quá trình lao động. Còn vệ sinh lao động là giải pháp kỹ thuật để giúp người lao động không bị suy giảm sức khỏe, không bị bệnh liên quan đến ngành nghề đang làm. Điều kiện lao động * Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên điều kiện lao động nhất định cho con người trong quá trình lao động, tình trạng tâm lý của người lao động tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động. Tác động của các yếu tố thuộc điều kiện lao động được phân thành hai loại: - Loại có tác động tích cực: tạo ra các điều kiện thuận lợi cho con người trong quá trình lao động.
- Loại có tác động tiêu cực: tạo ra các điều kiện không thuận lợi, có khi nguy hiểm, dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng làm việc của con người trong lao động. * Phân nhóm các yếu tố điều kiện lao động Theo nguồn gốc hình thành và sự ảnh hưởng của yếu tố điều kiện lao động đến người lao động. Được chia thành 5 nhóm yếu tố như sau: • Nhóm các yếu tố thuộc về vệ sinh, môi trường lao động: là các yếu tố tồn tại trong môi trường không khí tại nơi làm việc, gây ra bởi các yếu tố công nghệ của sản xuất, đặc điểm khí hậu và điều kiện tự nhiên vùng miền của nơi làm việc, tính chất của đối tượng lao động, cách thức tổ chức và phục vụ nơi làm việc. Bao gồm các yếu tố: - Điều kiện vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, sự di chuyển, bức xạ nhiệt và áp suất không khí) - Tiếng ồn, rung động, sóng siêu âm 9 - Độc hại trong sản xuất - Tia bức xạ và trường điện từ cao - Ánh sáng và chế độ chiếu sáng - Điều kiện vệ sinh công nghiệp • Nhóm các yếu tố về tâm - sinh lý lao động: là những yếu tố hình thành trong quá trình lao động có ảnh hưởng tác động đến trạng thái tâm sinh lý của người lao động.
Bao gồm các yếu tố: - Sự căng thẳng về thể lực - Sự căng thẳng về thần kinh - Nhịp độ lao động - Trạng thái và tư thế lao động - Tính đơn điệu trong lao động • Nhóm các yếu tố thuộc về thẩm mỹ của lao động: được tạo ra bởi sự sắp xếp, bố trí không gian nơi làm việc có được khoa học, đẹp mắt hay không. Bao gồm các yếu tố: - Bố trí không gian sản xuất và sự phù hợp với thẩm mỹ công nghiệp - Kiểu dáng và sự phù hợp của các trang thiết bị với tính thẩm mỹ cao - Âm nhạc, chức năng - Màu sắc - Cây xanh và cảnh quan môi trường • Nhóm các yếu tố thuộc về tâm lý - xã hội: được tồn tại trong môi trường giao tiếp giữa những người cùng làm việc với nhau. Cụ thể: - Tâm lý cá nhân trong tập thể - Quan hệ giữa các nhân viên với nhau và quan hệ giữa các nhân viên và người quản lý - Tiếng đồn, dư luận, mâu thuẫn và xung đột - Bầu không khí trong tập thể - Các chương trình thi đua, phát huy sáng kiến - Các vấn đề về khen thưởng và kỷ luật lao động 10 - Văn hóa doanh nghiệp. • Nhóm các yếu tố thuộc về chế độ làm việc và nghỉ ngơi: là việc quy định về độ dài thời gian làm việc, nghỉ ngơi của người lao động trong quá trình làm việc như quy định về số giờ làm việc trong một ngày, số ngày làm việc trong tuần, tháng, năm; tỷ lệ thời gian quy định cho nghỉ ngơi và nhu cầu cần thiết ngày, ca làm việc.
Cụ thể là: - Sự luân phiên giữa làm việc và nghỉ giải lao - Độ dài thời gian nghỉ và hình thức nghỉ Sự phân chia thành 5 nhóm như trên chỉ có ý nghĩa về học thuật, trên thực tế chúng không tồn tại riêng rẽ và độc lập với nhau mà ngược lại, sự tồn tại của chúng mang tính biện chứng. Chúng ảnh hưởng qua lại đan xen lẫn nhau. Bất cứ một nghề hay một công việc nào cũng hiện diện đầy đủ 5 nhóm yếu tố trên. * Cải thiện điều kiện lao động Cải thiện điều kiện lao động là làm thế nào để đưa các yếu tố của điều kiện lao động vào trạng thái tốt nhất, tối ưu nhất để chúng không gây ảnh hưởng xấu đến người lao động và môi trường xung quanh.
Ngược lại, chúng còn có tác động thúc đẩy củng cố sức khoẻ, nâng cao khả năng làm việc của người lao động. Mục đích của việc cải thiện điều kiện lao động là thông qua các biện pháp về khoa học, kỹ thuật, tổ chức, hành chính, kinh tế xã hội để giảm thiểu hoặc loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên điều kiện làm việc thích nghi, thuận lợi và ngày càng cải thiện tốt hơn để phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sút sức khỏe và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động. Cải thiện các điều kiện lao động có một ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức lao động khoa học, vì mục đích của tổ chức lao động khoa học là nhằm đạt được kết quả lao động cao đồng thời đảm bảo sức khỏe an toàn cho người lao động, phát triển toàn diện cho người lao động. Điều kiện lao động thuận lợi sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả trong quá trình lao động.
Cải 11 thiện điều kiện lao động còn nâng cao hứng thú trong lao động; tạo điều kiện cho việc giáo dục tinh thần lao động cộng sản chủ nghĩa cho con người. Cải thiện điều kiện lao động là một nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động và bảo vệ sức khoẻ cho người lao động. Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện những yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, có hại và nguy hiểm, có nguy cơ gây ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Chúng ta gọi các yếu tố đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại.
* Các yếu tố nguy hiểm Là những yếu tố có trong môi trường lao động có thể gây chấn thương, nguy hiểm cho người lao động và làm thiệt hại về tài sản, môi trường. Đó là các bộ phận và cơ cấu chuyển động của máy thiết bị, nguy hiểm điện, nguy hiểm nổ, nguy hiểm nhiệt, nguy hiểm do hóa chất công nghiệp. Theo khoản 4, điều 3 Luật ATVSLĐ, định nghĩa: Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. [17] * Các yếu tố có hại Là những yếu tố có trong môi trường lao động tác động xấu đến sức khỏe của người lao động (điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá giới hạn của quy chuẩn vệ sinh lao động cho phép) gây bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan đến nghề nghiệp.
Đó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc, các sinh vật có hại. Theo khoản 5, điều 3 Luật ATVSLĐ, Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2015), định nghĩa: Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động. Sự cố kỹ thuật mất an toàn, vệ sinh lao động Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động là sự cố xẩy ra trong quá trình lao động, sản xuất, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và môi trường. 12 Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng là sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động lớn, xảy ra trên diện rộng và vượt khả năng ứng phó của cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ quan, tổ chức, địa phương.
Gây thiệt hại lớn cho con người, tài sản và môi trường.