LỜI MỞ ĐẦU Dịch vụ ngân hàng đang là một ngành kinh doanh rất được quan tâm trong vài năm gần đây, nhất là năm 2006 này. Đặc thù của lĩnh vực ngân hàng đó là các sản phẩm vô hình, do vậy giá trị sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đối với mỗi khách hàng là khác nhau và khó có thể ước tính bằng lời nói. Muốn thu hút được khách hàng mục tiêu đến với mình các ngân hàng không thể chỉ bằng con đường quảng cáo, tiếp thị mà bằng cả quá trình xây dựng các giá trị niềm tin, uy tín trong dài hạn, hay nói cách khác, bằng uy tín của thương hiệu. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Techcombank được đánh giá là 1 trong 3 - 4 ngân hàng TMCP tốt nhất Việt Nam đã thực hiện đổi mới thương hiệu của mình và đang từng bước chinh phục tâm trí và trái tim khách hàng mục tiêu.
Trong thời gian thực tập ở ngân hàng, em nhận thấy công tác thương hiệu của Techcombank gần đây đạt nhiều bước tiến, song vẫn còn một số điều chưa giải quyết thoả đáng. Quá trình tạo lập và phát triển thương hiệu với những mặt được và chưa được đặt ra nhiều vấn đề mà em mong muốn mình được tham gia giải quyết. Do vậy, em lựa chọn đề tài cho chuyên đề thực tập của mình là: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU TECHCOMBANK. Mục tiêu của chuyên đề này là tìm hiểu quá trình xây dựng thương hiệu của Techcombank đồng thời phân tích các yếu tố nhằm phát triển thương hiệu này trên thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam.
Chuyên đề của em gồm 4 phần chính: Phần I. Đôi nét về ngân hàng Techcombank. Tình hình hoạt động Marketing của Techcombank. Thực trạng xây dựng thương hiệu của Techcombank.
Giải pháp cho sự phát triển thương hiệu Techcombank. Trong quá trình thực hiện chuyên đề, em được GS.TSKH Lương Xuân Quỳ và các anh chị trong phòng Marketing Hội sở góp ý và giúp em hoàn thiện rất nhiều. Em xin chân thành cảm ơn. Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2006 Sinh viên thực hiện Vương Thị Trang Vương Thị Trang 1 Marketing 44A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp PHẦN I.
ĐÔI NÉT VỀ NGÂN HÀNG TECHCOMBANK 1. Sơ lược lịch sử Techcombank. Techcombank là tên tiếng Anh viết tắt của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Vietnam Technological and Commecial Joint Stock Bank) hay còn gọi là Ngân hàng Kỹ thương. Techcombank được thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1993 theo giấy phép hoạt động số 0040/NH-GP do thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 06/08/1993; giấy phép kinh doanh số 055679 do trọng tài kinh tế Hà Nội cấp ngày 07/09/1993 với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng, chia làm 4000 cổ phiếu, 5 triệu đồng/ cổ phiếu.
Trụ sở chính đặt tại 24 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. (Hiện nay Hội sở chuyển sang 15 Đào Duy Từ, Hà Nội. Cổ đông lớn nhất của Ngân hàng khi thành lập là hãng Hàng không Việt Nam với 6 tỷ đồng vốn góp. Ngoài ra còn một số cổ đông lớn khác như Tổng công ty da giầy, Tổng công ty dệt may và một số cá nhân khác.
Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, Techcombank ra đời đã thể hiện một sự nhạy bén trước nhu cầu rất tiềm năng trong dịch vụ ngân hàng. Từ khi thành lập, Techcombank đã trưởng thành từng bước về cả quy mô và chất lượng, uy tín. 1995 - Tăng vốn điều lệ lên 51,495 tỷ đồng. - Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá trình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn.
1996 - Thành lập Chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng Phòng Giao dịch Nguyễn Chí Thanh tại Hà Nội. - Thành lập Phòng Giao dịch Thắng Lợi trực thuộc Techcombank Hồ Chí Minh. - Tăng vốn điều lệ tiếp tục lên 70 tỷ đồng. 1998 - Trụ sở chính được chuyển sang Toà nhà Techcombank - 15 Đào Duy Từ Hà Nội.
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng tại Đà Nẵng. 1999 - Techcombank tăng vốn điều lệ lên 80,020 tỷ đồng. - Khai trương Phòng giao dịch số 3 tại phố Khâm Thiên, Hà Nội. 2000 - Thành lập Phòng Giao dịch Thái Hà tại Hà Nội.
2001 - Tăng vốn điều lệ lên: 102,345 tỷ đồng. - Ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phần mềm hệ thống ngân hàng hàng đầu trên thế giới Temenos Holding NV, về việc triển khai hệ thống phần mềm Vương Thị Trang 2 Marketing 44A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ngân hàng GLOBUS cho toàn hệ thống Techcombank nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. 2002 - Thành lập một loạt các chi nhánh: Chương Dương, Hoàn Kiếm tại Hà Nội; chi nhánh Hải Phòng; chi nhánh Thanh Khê tại Đà Nẵng; chi nhánh Tân Bình tại tp Hồ Chí Minh. - Tăng vốn điều lệ lên 117,87 tỷ đồng.
2003 - Triển khai chạy phần mềm Globus trên tất cả các chi nhánh trong Techcombank. - Nhận chứng nhận Exellent F. - Khai trương Techcombank Chợ Lớn tại tp Hồ Chí Minh. - Đến cuối năm, vốn điều lệ đạt 203,6 tỷ đồng.
2004 - Khai trương thêm các chi nhánh: chi nhánh Hải Châu tại Đà Nẵng, chi nhánh Tân Sơn Nhất tại tp Hồ Chí Minh. - Chính thức khai trương biểu tượng mới - Nhận chứng chỉ ISO 9000:2000 trong lĩnh vực hoạt động tín dụng và thanh toán từ BVQI. - Nhận chứng chỉ “Ngân hàng hoạt động xuất sắc trong thanh toán quốc tế với tỷ lệ STP cao” do ngân hàng Citibank trao tặng, “Ngân hàng đạt tỷ lệ điện chuyển tiền và thanh toán xuất sắc” do Standard Charter Bank cấp. - Phối hợp Trung tâm năng suất Việt Nam (VPC) triển khai đề án CRM Techcombank (quản trị quan hệ khách hàng ) thí điểm tại Hội sở.
- Vốn điều lệ đến cuối năm là 412,7 tỷ đồng. 2005 - Thành lập các chi nhánh cấp 1 tại: Lào Cai, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, T. - 28/10/2005: Tăng vốn điều lệ lên 555 tỷ đồng - 29/09/2005: Khai trương phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ của hãng Compass Plus - 03/12/2005: Nâng cấp hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhất Tenemos T24 R5. Vương Thị Trang 3 Marketing 44A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2.
Cơ cấu tổ chức Trung tâm UD&PT sản phẩm dịch vụ Công nghệ Ngân hàng Trung tâm thẻ Trung tâm thanh toán và Ngân hàng đại lý Đại hội cổ đông P.Kiểm soát nội bộ Ban Kiểm soát P. Kế toán tài chính Văn phòng Hội đồng P. Quản lý nguồn vốn, Giao Quản trị dịch tiền tệ và Ngoại hối Hội đồng Quản trị P.Quản lý nhân sự Hội đồng tín P. Tiếp thị, Phát triển sản dụng phẩm và Chăm sóc khách hàng Ban Tổng Giám P.
Kế hoạch tổng hợp đốc Khối ngân hàng Doanh Ủy ban quản nghiệp lý tài sản nợ, tài sản có Văn phòng Ban Đào tạo Ban Quản lý chất lượng Ban Quản lý Ủy thác đầu tư, quản lý tài sản và tư vấn Vương Thị Trang 4 Marketing 44A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3. Nguồn lực của Techcombank 3. Nguồn lực tài chính Khi mới thành lập, vốn điều lệ của Techcombank chỉ vẻn vẹn 20 tỷ đồng. Sau 13 năm xây dựng và phát triển, đến ngày 29.2005, vốn điều lệ của Techcombank đã đạt 617,660 tỷ đồng.
Theo số liệu cuối năm 2004, Techcombank có tổng tài sản là gần 10.000 tỉ đồng và gần 800 nhân viên. Tốc độ tăng trưởng về tổng tài sản và doanh thu hàng năm của Techcombank trong nhiều năm qua luôn đạt từ 30% trở lên.Trong hệ thống các ngân hàng cổ phẩn, Techcombank là ngân hàng đứng thứ 4 về vốn điều lệ (sau SACOMBANK 810 tỷ; EXIMBANK 700 tỷ;ACB 550 tỷ); đứng thứ tư về tổng tài sản với mức (sau ACB 15000 tỷ, SACOMBANK 10.000 tỷ, EXIMBANK 9000 tỷ) và đứng thứ 5 về tổng lợi nhuận trước thuế (sau ACB 280 tỷ, SACOMBANK 250 tỷ, Quân đội 110 tỷ, Đông Á bank 110 tỷ). Cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ Tuy thời gian mới thành lập Techcombank chưa có đủ nguồn lực để xây dựng được cơ sở hạ tầng khang trang. Nhưng chỉ sau một vài năm kinh doanh, nhất là trong thời gian gần đây, Techcombank đã xây dựng cho mình một hệ thống cơ sở vật chất đồ sộ với một mạng lưới điểm giao dịch rộng rãi và trang thiết bị hiện đại hàng đầu trong hệ thống ngân hàng TMCP.
Từ khi thành lập, Techcombank nhận thức được tính “trẻ” của ngân hàng mình - thiếu về kinh nghiệm quản lý tài chính, thì công nghệ phải là yếu tố bù đắp, do vậy, Techcombank hết sức chú trọng tới việc đầu tư vào ứng dụng công nghệ nhằm rút ngắn thời gian thực hiện các quy trình nghiệp vụ, xử lý nhanh khối lượng công việc lớn, trợ giúp các hoạt động quản lý và hạn chế rủi ro trong ngân hàng, bắt kịp xu thế vốn rất linh hoạt của ngành. Trong bối cảnh hàng loạt ngân hàng bạn đang thực hiện hiện đại hóa nhằm tối đa hóa các tiện ích mà sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể đem lại cho khách hàng. Ngoài ra, xu hướng liên kết giữa các ngân hàng nhằm tối đa hóa những lợi ích cho khách hàng từ việc tận dụng lợi thế công nghệ của nhau. Để ứng đối với vấn đề này, Techcombank đã mua phần mềm hệ thống quản trị ngân hàng lõi Globus từ năm 2003 và đã triển khai, khai tác tốt thế mạnh của phần mềm này.
Đây là cơ sở để ngân hàng cho ra đời hàng loạt sản phẩm mới có tính công nghệ cao. Phiên bản mới nhất của hệ thống phần mềm quản trị ngân hàng này có tên gọi T24r5 được Techcombank triển khai từ đầu tháng 12 năm 2005 với các tính năng tiên tiến nổi bật như hỗ trợ đa máy chủ (multi-server). Tính năng này cho Vương Thị Trang 5 Marketing 44A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp phép hệ thống có thể chạy đồng thời trên nhiều máy chủ khác nhau, cải thiện đáng kể tốc độ hạch toán và truy xuất thông tin, qua đó tăng cao hiệu suất giao dịch. Cụ thể T24r5 có thể cho phép thực hiện tới 1,000 giao dịch ngân hàng/giây, cùng lúc cho phép tới 110,000 người truy cập (10,000 trực tiếp và 100,000 qua Internet) và quản trị tới 50 triệu tài khoản khách hàng.
Từ năm 2002, Techcombank bắt đầu áp dụng hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu SWIFT (Society for Worldwide Interbank Finacial). Đây là mạng liên lạc điện tử giữa các ngân hàng trên toàn cầu cho phép thanh toán quốc tế thực hiện giao dịch với bên ngoài thống nhất qua phòng quan hệ đối ngoại (Nay là trung tâm thanh toán và Ngân hàng đại lý) tại Hội sở. Nhờ vậy, tỷ lệ điện chuẩn của Techcombank thuộc hàng cao nhất nước (98%).