Chương 1. Giới thiệu tổng quan về trang thông tin điện tử 1. Tổng quan về trang thông tin điện từ 1. Tổng quan về mã nguồn mở Chương 2: Tìm hiểu về phần mềm mã nguồn mở NukeViet.1 Giới thiệu về phần mềm mã nguồn mở NukeViet.2 Các khái niệm cơ bản 2.3 Cài đặt NukeViet Chương 3: Sử dụng NukeViet để xây dựng trang thông tin điện tử cho Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học trường Đại học Quảng Nam 3.1 Giới thiệu về trung tâm Ngoại ngữ - Tin học 3.2 Giới thiệu sơ lược về tiếng Lào 3.3 Thiết lập trang thông tin điện tử tiếng lào PHAN B.
NOI DUNG NGHIEN CUU CHUONG 1: GIGI THIEU TONG QUAN VE TRANG THONG TIN ĐIỆN TỬ 1. TONG QUAN VỀ TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm về Trang thông tin điện tử Trang théng tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một. hoặc nhiều trang thông tin được trình bày đưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet (Theo khoản 21 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt. Như vậy chúng ta có thể iéu don giản trang thông tin điện tử là hệ thống các “cửa hàng” thông tin được tổng hợp từ tất cả các nguồn thông tin hi có.
Trang thông tin điện tử thu thập và đăng tải các thông tin hữu ích cho người dùng như: giới thiệu tổ chức, tin tức, hình ảnh, âm thanh, công văn, tài liệu của đơn vị, tổ chức.1 Trang thong tin điện tử 1.2 Phân loại Trang thông tin điện tử Chính phủ đã đưa ra quy định tại Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về cung cấp, quản lý, sử dụng dịch vụ Internet và các thông tin được truyền dẫn trên mạng, trang thông tin điện tử được phân thành 5 loại trang thông tin cơ bản bao gểm: 1.1 Báo mạng điện tử Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí phổ biến. Đây được coi là phương pháp truyền thông đại chúng đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ nhờ sự phát triển của Internet. Tại Việt Nam, báo mạng điện tử phát triển nhanh chóng và là một trong những phương tiện truyền thông được nhiều người sử dụng nhất Nó còn được biết đến với các tên gọi khác như: báo mạng, báo chí intemet, báo trực tuyến. Báo mạng điện tử có nhiều đặc trưng riêng biệt, tính chất riêng.
Có thể kể đến nhiều tính nang néi bật như: Tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thời, phi định kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, lưu trữ thông tin dưới dang siéu văn bản, khả năng liên kết lớn. Báo mạng điện tử có hình thức của một trang thông tin điện tử. Nó cũng được thiết lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về báo chí.2 Trang thông tin điện tử tổng hợp Trang thông tin điện tử tổng hop là trang thông tin điện tir của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.3 Trang thông tin điện tử nội bộ Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyển hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp.4 Trang théng tin điện tử cá nhân Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại điện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp. Trang thông tin điện tử cá nhân, trang thông tin điện tử nội bộ phải tuân theo các quy định về đăng ký và sử dụng tài nguyên Intemet và các quy định có liên quan tại Nghị định số 72/2013/NĐ-CP.5 Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành Trang thông tin điện tử chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.
Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành được thiết lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định có liên quan.3 Tính năng của Trang thông tin điện tử: Trang thông tin điện tử được trang bị rất nhiều tính năng hữu ích như sau: - Trang thông tin điện tử là công cụ tốt nhất để giới thiệu về các đơn vị, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp với các thông tin khác như: lịch sử thành lập, thành tích giải thưởng, cơ cấu tổ chức,. cũng như rất nhiều các thông tin khác tùy theo đặc thù của từng đơn vị mà đơn vị yêu câu. - Video - hình ảnh: đăng tải các video, hình ảnh có liên quan đến hoạt động của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, video về kiến thức, các lĩnh vực hoạt động khác của đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp. - Liên hệ: chuyên cung cấp các thông tin, so dé đường đi, form liên hệ, địa chỉ liên hệ.
để độc giả, đối tác hay các đơn vị có liên quan có thể dễ dàng liên lạc. - Quảng cáo: trên các trang thông tin điện tử có các khu vực để các đơn vị, doanh nghiệp có thể đặt quảng cáo trên website, tăng thêm nguồn thu nhập. - Tổng hợp và cung cấp thông tin - tin tức: đăng tải các nội dung liên quan đến tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,. và những thông tin khác theo nhu cầu của công chúng.
- Trang thông tin điện tử hoạt động ổn định và đế đàng tương thích tốt trên các thiết bị điện từ phổ biến hiện nay như: máy tinh dé ban, điện thoại, máy tính bảng, laptop,. TONG QUAN VE MA NGUON MG 2.1 Giới thiệu về phần mềm mã nguồn mỡ Phan mềm nguồn mở (PMNM) là những phần mềm được cung cấp dưới cả dang mã và nguồn, không chỉ là miễn phí về giá mua mà chủ yếu là miễn phí về bản quyển: người dùng có quyền sửa đổi ến, phát triển, nâng cấp theo một số nguyên tắc chung qui định trong giấy phép PMINM (ví dụ General Public Licence — GPL) mà không cần xin phép ai, điều mà họ không được phép làm đối với các phần mềm nguồn đóng (tức là phần mềm thương mại). Nhìn chung, thuật ngữ “Open source” dugc dùng để lôi cuốn các nhà kinh doanh, một điều thuận lợi chính là sự miễn phí và cho phép người dùng có quyền “sở hữu hệ thống”. Nhà cung cấp phần mềm nguồn mở có quyền yêu cầu người dùng trả một số chỉ phí về các dịch vụ bảo hành, huấn luyện, nâng cấp, tư vấn, vv.
tức là những dich vụ thực sự đã thực hiện dé phục vụ người dùng, nhưng không được bán các sản phẩm nguễn mở vì nó là tài sản của trí tuệ chung, không phải là tài sản riêng của một nhà cung cấp nào. Tiện ích mà Open Source mang lại chính là quyển tự do sử dụng chương trình cho mọi mục đích, quyền tự do để nghiên cứu cấu trúc của chương trình, chỉnh sữa phù hợp với nhu cầu, truy cập vào mã nguồn, quyền tự do phân phối lại các phiên bản cho nhiều người, quyền tự đo cải tiến chương trình và phát hành những bản cải tiến vì mục đích công cộng.2 Một số định nghĩa về phần mềm mã nguồn mỡ - Phần mềm thương mại (Commercial Software): Là phần mềm thuộc bản quyền của tác giả hoặc nhà sản xuất, chỉ được cung cấp ở dạng mã nhị phân, người dùng phải mua và không có quyền phân phối lại. - Phần mềm thử nghiệm giới hạn (Limifed Trial Software): Là những phiên bản giới hạn của các phần mềm thương mại được cung cấp miễn phí nhằm mục đích thử nghiệm, giới thiệu sản phẩm và kích thích người dùng quyết định mua. Loại sản phẩm này không chỉ giới hạn về tính năng mà còn giới hạn về thời gian dùng thử (thường là 60 ngày).
- Phần mềm “chia sé” (Shareware): Loai phần mềm này có đủ các tính năng và được phân phối tự do, nhưng có ấy phép khuyến cáo các cá nhân hoặc tổ chức mua, tùy tình hình cụ thể. Nhiều tiện ích Internet (như “WinZip” dùng các thuận lợi của Shareware như một hệ thống phân phối). - Phan mém sir dung phi thuong mai (Non-commercial Use): Loại phần mềm này được sử dụng ty do và có thể phân phối lại bởi các tổ chức phi lợi nhuận. Nhưng các tổ chức kinh tế, thí dụ các doanh nghiệp,.
muốn dùng phải mua. Netscape Navigator là một thí dụ của loại phần mềm này. - Phần mềm không phải trả phần trăm cho nhà sẵn xuất (Royalties Free Binaries Software): Phần mềm được cung cấp dưới dạng nhị phân và được dùng tự do. Thí dụ: bản nhị phân của các phần mềm Internet Explorer và NetMeeting.
- Thư viện phần mềm không phải trả phần trăm (Royalties Free Software Libraries): Là những phần mềm mà mã nhị phân cũng như mã nguồn được dùng và phân phối tự do, nhưng người dùng không được phép sửa đổi. Thí dụ: các thư viện lớp học, các tệp “header”, vv. - Phần mềm mã nguồn mở kiểu BSD — (Open Source BSD-style): Một nhóm nhỏ khép kín (closed team) đã phát triển các PMNM theo giấy phép phân phéi Berkely (BSD — Berkely Software Distribution) cho phép sử dụng và phân phối lại các phần mềm này dưới dạng mã nhị phân và mã nguồn. Tuy người dùng có quyền sửa đổi mã, nhưng về nguyên tắc nhóm phát triển không cho phép người dùng tự do lấy mã nguồn từ kho mã ra sửa (gọi là check-out) và đưa mã đã sửa vào lại kho mã mà không được họ kiểm tra trước (gọi là các ““check-in").
- PMNM kiểu Apache (Open Source Apache-style): Chấp nhận nguồn mở kiểu BSD nhưng cho phép những người ngoài nhóm phát triển xâm nhập vào lõi của mã nên (core codebase), tức là được phép thực hiện các “check-in”. - MNM kiểu CopyLeft hay kiểu Linux (Open Source CopyLeft, Linux- style): PMNM kiéu CopyLeft (tro choi chit cia Free Software Foundation — FSF — và GNU — Gnu’s Not Unix, để đối nghịch hoàn toàn với CopyRight !