CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN NHƠN TRẠCH 1. Một số khái niệm - Tổ chức Đảng Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định 263/QĐ-TW năm 2014 xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành thì thuật ngữ tổ chức đảng được quy định cụ thể như sau: Tổ chức đảng là tổ chức do đại hội bầu hoặc do cấp ủy có thẩm quyền bầu hay chỉ định thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và quyết định theo đa số. Theo tài liệu môn học Công tác tổ chức, cán bộ của Đảng do Học viện Chính trị khu vực II lưu hành nội bộ cho các lớp Cử nhân xây dựng Đảng và quản lý chính quyền khái niệm tổ chức đảng được hiểu như sau: Tổ chức đảng là tất cả các bộ phận từ tổ chức đảng ở Trung ương đến địa phương, từ tổ chức cơ sở đảng đến cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu, các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở các cấp gắn bó chặt chẽ với nhau, hợp thành một khối thống nhất. - Tổ chức cơ sở đảng Điểm 2, Điều 10, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: TCCSĐ được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.
14 Điều 21, Điều lệ Đảng quy định: Ở xã phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập TCCSĐ (trực thuộc cấp ủy huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (TCCSĐ hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp, nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở TCCSĐ thích hợp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. TCCSĐ được tổ chức dưới hai loại hình là CB cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở (TCCSĐ dưới ba mươi đảng viên, lập CB cơ sở, có thể có tổ chức đảng trực thuộc; TCCSĐ có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở - trừ trường hợp đặc biệt được cấp ủy cấp trên đồng ý). Như vậy, TCCSĐ là tổ chức đảng được thành lập ở đơn vị cơ sở, có từ ba đảng viên chính thức trở lên, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cấp trên cơ sở.
TCCSĐ có 5 loại hình chủ yếu: cơ sở hành chính (xã, phường, thị trấn); đơn vị sự nghiệp công lập (học viện, bệnh viện, trường học, viện nghiện cứu…); đơn vị kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã…); cơ quan (đảng, nhà nước, đoàn thể) và lực lượng vũ trang. - Doanh nghiệp tư nhân Theo Điều 188 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020 của Quốc Hội thì doanh nghiệp tư nhân được hiệu như sau: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, không được quyền góp 15 vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư của một quốc gia đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn thành lập trên lãnh thổ của một quốc gia khác để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận.
Thuật ngữ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chính thức được sử dụng trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (trước đó gọi là xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Theo đó thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có các đặc trưng sau: 1) Doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc một phần của nhà đầu tư nước ngoài; 2) Được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam trên cơ sở giấy phép đầu tư do cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài cấp; 3) Có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam; 4) Được tổ chức dưới hình thức công ti trách nhiệm hữu hạn. Hiện nay, Việt Nam đang thí điểm chuyển một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ti cổ phần. Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/6/2020 của Quốc Hội không đề cập trực tiếp loại hình doanh nghiệp này mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 21, Điều 3 như sau: Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.
Lý luận chung về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, C.Ăngghen thường xuyên chú trọng đến công tác thành lập Đảng cộng sản và các CB cơ sở.Ăngghen nhận xét cần phải thành lập các CB ở các địa phương, trong các hiệp hội công nhân và luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của các CB cơ sở - TCCSĐ. Những luận điểm nêu trên được thể hiện thông qua tổ chức “Liên đoàn những người cộng sản” (1847). Lúc đó những chi bộ được thành lập dưới 16 hình thức các hội bí mật trong các hiệp hội công nhân và là nơi kết nạp, quản lý hội viên, nơi tuyên truyền lý tưởng cộng sản và lãnh đạo công nhân đấu tranh chống giai cấp tư sản.Mác cho rằng: Đảng Cộng sản đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân là một chỉnh thể có kết cấu chặt chẽ trong một hệ thống tổ chức mà nền tảng là các chi bộ cơ sở, nếu các chi bộ cơ sở buông lỏng và cắt đứt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương sẽ làm cho Đảng mất chỗ dựa vững chắc và duy nhất. Kế thừa những quan điểm, tư tưởng của C.Lênin luôn quan tâm chăm lo xây dựng các CB cơ sở.
Trong bài viết về việc cải tổ Đảng, Lênin đã chính thức sử dụng thuận ngữ TCCSĐ và chỉ rõ CB cơ sở là các TCCSĐ, V.Lênin cho rằng “hình thức tổ chức mới, hay nói đúng hơn là hình thức mới của tổ chức cơ sở của đảng công nhân phải giải quyết tuyệt đối rộng rãi hơn so với những tiểu tổ cũ” (V.Lênin, 1979, tập 12, tr.Lênin chỉ rõ việc thành lập các tổ chức cách mạng trong các xí nghiệp, nhà máy để lãnh đạo phong trào đấu tranh là nhiệm vụ đầu tiên cấp bách của người Dân chủ xã hội Nga. Khi Đảng đã giành được chính quyền V.Lênin chỉ rõ: Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức. Những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ mà rèn luyện mình, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống. Mỗi chi bộ và mỗi ủy ban công nhân của Đảng phải là một điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức thực hiện trong quần chúng.
Là người kế thừa sự nghiệp của C.Lênin đã tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng Đảng kiểu mới và chăm lo xây dựng TCCSĐ là nền tảng, là hạt nhân chính trị, lãnh đạo phong trào cách mạng. Hồ Chí Minh cho rằng “ở mỗi xưởng máy, hầm mỏ, xí nghiệp, cơ quan, trường học, đường phố, nông thôn, đại đội – có 3 đảng viên trở lên thi lập một 17 chi bộ” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 7, tr. 242) như vậy ở các cơ sở trên nếu có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì sẽ thành lập TCCSĐ. CB là nền móng của Đảng, CB có tốt thì mọi công việc đều sẽ tốt.
Vai trò nền móng của TCCSĐ thể hiện qua mối quan hệ mật thiết và chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng. Theo Hồ Chí Minh “mỗi chi bộ của Đảng là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên kết mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 14, tr. Như vậy, sự liên hệ, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân là nguồn gốc sức mạnh của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng: “tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợ dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 7, tr.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng vai trò của TCCSĐ được thể hiện ở chất lượng của TCCSĐ, khi nào TCCSĐ mạnh thì mọi việc ở cơ sở sẽ được thực hiện tốt; TCCSĐ có mạnh thì tổ chức đảng cấp trên mới mạnh và toàn Đảng cũng sẽ vững mạnh. Chất lượng TCCSĐ ảnh hướng rất nhiều đến chất lượng của toàn Đảng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chi bộ là gốc rễ của Đảng” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 7, tr. 242), “chi bộ là nền tảng của Đảng, của cách mạng ở xã” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 7, tr.
246), “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 10, tr. 270) và “các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 7, tr. Đảng Cộng sản Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị nhưng đồng thời cũng là thành viên giữ vị trí, vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị đó nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động từ trung ương đến cơ sở được thống nhất, theo đúng đường lối, mục tiêu, định hướng chính trị của Đảng đã đề ra. Ngoài ra, TCCSĐ còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng nhân dân nghiêm chỉnh thực hiện và đạt kết quả các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng thành công nước Việt Nam 18 dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “mỗi chi bộ phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 10, tr.