Phần mở đầu Chƣơng 1: Lý luận chung về thương hiệu, thương hiệu ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng và phát triển thương hiệu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương – Saigonbank. Chƣơng 3: Một số giải giải pháp, kiến nghị để xây dựng và phát triển thương hiệu Saigonbank. Phần kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƢƠNG HIỆU THƢƠNG HIỆU NGÂN HÀNG 1.
Lý luận chung về thƣơng hiệu 1. Khái niệm thƣơng hiệu Trong marketing, thương hiệu được xem là trung tâm của các công cụ marketing vì thương hiệu chính là những gì mà các nhà làm marketing xây dựng và phát triển để tạo dựng chiến lược cho công ty của mình. Khái niệm về thương hiệu ra đời từ rất lâu và trước khi marketing trở thành một ngành nghiên cứu riêng biết trong kinh doanh. Bất kỳ một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi ra đời phải có tên gọi hay xa hơn nữa là biểu tượng, biểu ngữ đó chính là thương hiệu của một doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp có thể đặt tên cho các sản phẩm hay dịch vụ của mình đó là nhãn hiệu hàng hóa. Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO: “Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ nào đó được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”. Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu chính là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế,., hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”1. “Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý tính và cảm tính của một sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh và mọi sự thể hiện của sản hẩm đó, dần được tạo dựng qua thời gian và chiếm một vị trí rõ ràng trong tâm trí khách hàng”2.
Với cách nhìn này, sản phẩm chỉ là một phần của thương hiệu, cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Còn các lợi ích tâm lý cần tạo ra nhiều yếu tố khác, đặc biệt là truyền thông marketing. Tâm điểm của một 1 American Marketing Association, 1960; as cited in Kotler,1991,p.442 2 John Murphy, 1998 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thương hiệu thành công là một sản phẩm, dịch vụ tuyệt vời được hỗ trợ bởi việc thiết kế và quản trị sáng tạo các hoạt động marketing. Khái niệm thương hiệu có nghĩa rộng hơn nhãn hiệu và nó chính là nội dung bên trong của nhãn hiệu hay nói cách khác nhãn hiệu là hình thức, là sự biểu hiện bên ngoài của thương hiệu.
Ngoài ra thương hiệu còn có nhiệm vụ, tầm nhìn chiến lược để nâng cao giá trị của doanh nghiệp thông qua việc nâng cao các giá trị thương hiệu. Một nhãn hiệu hàng hóa có thể dùng để thể hiện một thương hiệu nào đó, nhưng thương hiệu không chỉ được thể hiện bằng nhãn hiệu hàng hóa. Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất. Do đó, việc đầu tiên trong quá trình tạo dựng thương hiệu là lựa chọn và thiết kế cho sản phẩm hay dịch vụ một tên gọi, logo, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì và các yếu tố phân biệt khác trên sản phẩm; thị hiếu và hành vi tiêu dùng của khách hàng mục tiêu và các yếu tố khác như pháp luật, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo… Chúng ta có thể gọi các thành phần khác nhau đó của một thương hiệu là các yếu tố thương hiệu.
Ở Việt Nam, hiện tại chưa có khái niệm về thương hiệu mà chỉ có khái niệm về nhãn hiệu. Tại Điều 4, khoản 16 – Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2009 định nghĩa: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”3. Các thành phần của thƣơng hiệu Một thương hiệu được cấu tạo bởi hai phần: Phần phát âm đƣợc: là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác của người nghe như tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, các khẩu hiệu, đoạn hát nhạc đặc trưng và các yếu tố phát âm được khác. Phần không phát âm đƣợc: là những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng, thiết kế và các yếu tố nhận biết khác.
3 Luật sở hữu Trí tuệ Việt Nam sửa đổi bổ sung, Điều 4, Khoản 16, 2009 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Các yếu tố thương hiệu của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được pháp luật bảo hộ dưới dạng là các đối tượng của sở hữu trí tuệ như: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp và bản quyền. Các yếu tố cấu thành nên thƣơng hiệu4 Một thương hiệu tồn tại bao gồm nhiều yếu tố cấu thành và có thể chia ra làm 3 cấp độ: Cấp độ 1: Lợi ích cốt lõi và cụ thể của thƣơng hiệu Đây là trọng tâm của thương hiệu nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của khách hàng thông qua việc tiêu dùng sản phẩm. Những mong muốn đó được cụ thể hóa thành những đặc điểm và thuộc tính xác định về chất lượng, công suất, kiểu dáng… Cấp độ 2: Hệ thống nhận diện thƣơng hiệu Đây là phần thiết kế để thương hiệu có thể dễ dàng được nhận biết đối với khách hàng. Nhận diện thương hiệu là một tập hợp bao gồm các yếu tố như tên thương hiệu, logo, biểu tượng, khẩu hiệu, nhạc hiệu, nhân vật đại diện, bao bì,.
Thiết kế thương hiệu phải đảm bảo được các yêu cầu về tính dễ ghi nhớ, có ý nghĩa, được ưa thích, dễ chuyển đổi, dễ thích nghi và dễ bảo hộ. Thương hiệu phải được thiết kế sao cho có thể dễ dàng đi vào nhận thức của khách hàng mục tiêu, có ý nghĩa thuyết phục đối với họ và giúp thương hiệu đứng vững trước sức ép của đối thủ cạnh tranh. Cấp độ 3: Các biến số marketing hỗn hợp Ở cấp độ này, thương hiệu với những yếu tố vật chất hữu hình và các đặc điểm về thiết kế gắn với tên gọi, biểu tượng, cần được hỗ trợ bằng các chương trình marketing hỗn hợp nhằm đưa thương hiệu đến với khách hàng mục tiêu vào đúng lúc, đúng chỗ với mức giá hợp lý. Trong đó các hoạt động xúc tiến marketing có 4 Quản trị xúc tiến thương mại trong xây dựng và phát triển thương hiệu, 2010, An Thị Thanh Nhàn, Lục Thị Thu Hường, trang 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhiệm vụ thông tin, thuyết phục và nhắc nhở khách hàng về sự nhận diện cũng như lợi ích của thương hiệu, cùng sự thỏa mãn và gắn bó của thương hiệu với khách hàng.
Giá cả Tên Biểu gọi tượng Sản phẩm Lợi ích Nhân Bao Xúc gia vật cốt lõi của bì tiến tăng thƣơng hiệu Tính Khẩu cách hiệu Phân phối Hình 1.1: Cấu trúc thương hiệu (Aaker - 1991; Keller - 2003) Như vậy, một thương hiệu tồn tại ở 3 cấp độ và gồm nhiều yếu tố cấu thành. Khi các yếu tố này càng chất lượng, bổ trợ và liên kết chặt chẽ với nhau thì thương hiệu càng mạnh. Và ngược lại, khi các yếu tố này không nhất quán, lộn xộn… thì thương hiệu sẽ kém bền vững. Giá trị thƣơng hiệu Trên quan điểm khách hàng, thương hiệu xuất phát từ sự thừa nhận của khách hàng về một sản phẩm, dịch vụ.
Khi nói đến xe gắn máy ta nghĩ ngay đến Honda, nói đến ngân hàng ta nghĩ ngay đến HSBC. Những thương hiệu khi tạo dựng được những giá trị như trên đó chính là giá trị thương hiệu. Quả thật, giá trị vô hình này rất xứng đáng để được tính thành tiền làm tăng thêm giá trị tài sản của doanh nghiệp. Không phải ngẫu nhiên khi mà một nhà sáng lập thương hiệu nổi tiếng đã ví von: "Nếu ai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đó lấy hết tài sản, máy móc, thiết bị, mạng lưới phân phối,… nghĩa là lấy đi tất cả những phần hữu hình và chỉ chừa lại duy nhất cái tên.
Thì ông ta tin rằng sẽ có thể gầy dựng lại triều đại trong một thời gian ngắn". Sự phát triển mạnh mẽ của thương hiệu vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, khi làn sóng mua bán, sáp nhập công ty bùng nổ tại Mỹ và các nước phương Tây. Trong các vụ mua bán trên, ngoài phần giá trị tài sản hiện hữu có thể nhìn thấy (tangible asset) và tính toán được giá trị như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tồn kho,… các bên còn đồng ý thanh toán cho nhau phần giá trị không hiện diện trong tài sản có thể nhìn thấy được của doanh nghiệp, tài sản vô hình (intangible asset). Một phần trong giá trị cộng thêm đó, chính là giá trị của thương hiệu.
Các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu: Giá trị thƣơng hiệu Các liên kết Sự trung Tài sản sở Nhận biết Chất lƣợng thành với thƣơng hiệu thƣơng hiệu hữu trí tuệ cảm nhận thƣơng hiệu khác Hình 1.2: Mô hình cấu trúc giá trị thương hiệu của Aaker Theo mô hình của Aaker (Brand Equity Model, Aaker, 1991), giá trị thương hiệu được hình thành từ năm thành phần chính5: Mức độ nhận biết về thương hiệu Chất lượng cảm nhận Các liên kết thương hiệu 5 Quản trị xúc tiến thương mại trong xây dựng và phát triển thương hiệu, 2010, An Thị Thanh Nhàn, Lục Thị Thu Hường; trang 39 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Lòng trung thành đối với thương hiệu Các tài sản quyền sở hữu trí tuệ khác của thương hiệu 1. Các phƣơng pháp định giá thƣơng hiệu Ngày nay, khi mà khoảng cách giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của doanh nghiệp ngày càng lớn thì sự quan tâm đến giá trị của tài sản vô hình là thương hiệu ngày càng gia tăng. Việc định giá thương hiệu không chỉ nhằm phục vụ cho các mục đích như mua bán, sáp nhập hoặc hợp tác chiến lược mà còn phục vụ cho các mục đích trong nội bộ doanh nghiệp. Có thể nói rằng phần lớn giá trị doanh nghiệp là nằm ở tài sản vô hình hay còn gọi là tài sản thương hiệu.
Mối quan tâm của các cấp quản lý đối với loại tài sản này đã gia tăng một cách đáng kể.