Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng từ ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh" được nghiên cứu sinh Ngô Văn Tuấn thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Nhung, hoàn thành vào tháng 11 năm 2012. Chuyên ngành đào tạo là Kinh tế tài chính, ngân hàng (Mã số: 62.01).

                            CỔ ĐÔNG

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò huyết mạch của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) trong nền kinh tế. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh trong khu vực, tuy nhiên hệ thống tài chính - ngân hàng vẫn bộc lộ sự phát triển chưa tương xứng, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu và nguy cơ bất ổn nội tại (vi phạm chính sách tiền tệ, nợ xấu gia tăng, rủi ro thanh khoản), các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM CP) tại địa bàn trọng điểm kinh tế như Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt với yêu cầu phải tái cấu trúc triệt để từ quản trị, công nghệ, sản phẩm đến cấu trúc sở hữu. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở các bài viết, tham luận riêng lẻ về từng nghiệp vụ hoặc xu hướng chung hậu gia nhập WTO đến năm 2020, chưa có nghiên cứu hệ thống hóa và chuyên sâu về mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng (TC-NH) hình thành từ các NHTM CP tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án bao gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế (TĐKT) và tập đoàn TC-NH; phân tích thực tiễn hoạt động của các tập đoàn tài chính quốc tế để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM CP tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2011, chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cản trở việc chuyển đổi mô hình.
  3. Đề xuất mô hình tập đoàn TC-NH thích hợp và hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hình thành tập đoàn TC-NH từ các NHTM CP trên địa bàn.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án xác định cụ thể:

  1. Phương pháp nào được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu?
  2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung nào?
  3. Khái niệm tập đoàn kinh tế và tập đoàn tài chính - ngân hàng tại các quốc gia và Việt Nam được hiểu như thế nào?
  4. Những mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng chủ yếu trên thế giới và điều kiện thúc đẩy sự hình thành là gì?
  5. Thực trạng hoạt động và xu hướng phát triển của NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh có những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế nào?
  6. Những giải pháp nào là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển NHTM CP theo mô hình tập đoàn TC-NH?
  7. Những kiến nghị bổ trợ nào cần gửi đến Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động ngân hàng theo mô hình tập đoàn tài chính trên thế giới (điển hình như HSBC, OCBC) và hoạt động của các NHTM CP có trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu về nội dung bao quát các mặt: cơ cấu tổ chức, nhân sự, năng lực tài chính, sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin, khuôn khổ pháp lý và các nhân tố thúc đẩy hình thành tập đoàn. Phạm vi dữ liệu thực trạng tập trung phân tích giai đoạn 2000 – 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả chỉ rõ tại thời điểm thực hiện đề tài, các tài liệu trong nước liên quan đến tập đoàn tài chính - ngân hàng chủ yếu tồn tại dưới dạng bài tham luận hội thảo, bài báo chuyên ngành của các nhà khoa học, chuyên gia tài chính và nhà quản lý ngân hàng. Các nghiên cứu về hệ thống NHTM CP phần lớn đi sâu vào các mảng nghiệp vụ chuyên biệt (tín dụng, thanh toán, quản trị rủi ro thanh khoản) mà chưa tiếp cận một cách toàn diện toàn bộ bức tranh hoạt động của hệ thống NHTM CP trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ khi thành lập đến giai đoạn tái cấu trúc, cũng như chưa định hình rõ ràng lộ trình phát triển theo mô hình tập đoàn tài chính.

Vị trí của luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống, kết hợp giữa cơ sở lý luận kinh tế học hiện đại về liên kết doanh nghiệp với việc phân tích số liệu thực chứng của các NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2011. Luận án giải quyết khoảng trống học thuật về tiêu chí định hình, điều kiện hình thành và cấu trúc vận hành của mô hình tập đoàn tài chính có nguồn gốc từ ngân hàng thương mại tại một nền kinh tế chuyển đổi đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống tài chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các học thuyết về tích tụ và tập trung tư bản, lý thuyết tổ chức công nghiệp, lý thuyết quản trị tập đoàn và các chuẩn mực tài chính - ngân hàng quốc tế. Luận án tổng hợp các khái niệm về TĐKT tại nhiều quốc gia: Keiretsu (Nhật Bản), Chaebol (Hàn Quốc), Jituan Gongsi (Trung Quốc), Konzern (Đức), Holding Company / Conglomerate (Mỹ, Anh, Tây Âu). Đồng thời, tác giả khảo cứu các hình thức liên kết (liên kết dọc, liên kết ngang, liên kết hỗn hợp; liên kết cứng, liên kết mềm) và các biểu hiện tổ chức như Cartel, Syndicate, Trust, Consortium, Conglomerate, Concern, Multinational Corporations (MNC) và Transnational Corporations (TNC).

Đối với lý thuyết về tập đoàn TC-NH, luận án sử dụng các khung quy định quốc tế làm chuẩn so sánh:

  • Chỉ thị 2002/87/EC của Liên minh Châu Âu (EU) về tập đoàn tài chính (Financial Conglomerate), với ba tiêu chí nhận diện: (1) có ít nhất một công ty ngân hàng/chứng khoán và ít nhất một công ty bảo hiểm; (2) tỷ lệ tổng tài sản tài chính trong bảng cân đối của tập đoàn lớn hơn 40%; (3) tỷ lệ tài sản trung bình của mỗi lĩnh vực tài chính lớn hơn 10% tổng tài sản tập đoàn hoặc tài sản của công ty tài chính nhỏ nhất đạt trên 6 tỷ Euro.
  • Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLB Act 1999) của Mỹ thay thế Đạo luật Glass-Steagall 1933, cho phép hình thành công ty sở hữu tài chính (Financial Holding Company) với các điều kiện an toàn vốn nghiêm ngặt: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu 10%, tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 6%, đòn bẩy tài chính (vốn cấp 1 / tổng tài sản) tối thiểu 5%.
  • Khái niệm về các định chế tài chính có tầm quan trọng hệ thống (SIFIs - Systemically Important Financial Institutions) và nhóm Megabanks theo phân loại của Hội đồng Bình ổn Tài chính (FSB).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng cách tiếp cận định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu giữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước với thực tiễn kinh doanh của các NHTM CP. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính của các NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh, báo cáo giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, niên giám thống kê, các tạp chí khoa học chuyên ngành cùng dữ liệu tài chính quốc tế (Fortune Global 500, The Banker).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính ngân hàng

Chương 1 dày 56 trang, tập trung làm rõ bản chất lý luận, đặc trưng, mô hình và vai trò của tập đoàn kinh tế và tập đoàn tài chính - ngân hàng. Tác giả định nghĩa tập đoàn TC-NH là một tổ hợp kinh tế gồm hai hay nhiều định chế tài chính khác nhau hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, liên kết chặt chẽ qua quan hệ sở hữu, cung cấp dịch vụ tài chính và phi ngân hàng, trong đó NHTM giữ vai trò hạt nhân chi phối các thành viên về vốn, chiến lược và cơ chế giám sát.

Chương này phân tích vị thế vượt trội của các tập đoàn tài chính trên thị trường toàn cầu thông qua các bảng số liệu thực chứng năm 2011:

Bảng 1.1: Các tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới năm 2011 (Đơn vị tính: tỷ USD)

STT Tên tập đoàn Quốc gia Tổng tài sản Lợi nhuận
1 Wal-Mart Mỹ 181 16,4
2 Royal Dutch Shell Hà Lan 322 20,0
3 ExxonMobil Mỹ 302 30,0
4 BP Anh 272 -3,7
5 Sinopec Group Trung Quốc 225 7,6
6 China National Petroleum Trung Quốc 399 14,0
7 State Grid Trung Quốc 315 4,5
8 Toyota Motor Nhật Bản 360 4,7
9 Japan Post Holdings Nhật Bản - 3,9
10 Chevron Mỹ 185 19,0

(Nguồn: Luận án tổng hợp và tính toán từ Fortune/tài liệu quốc tế)

Bảng 1.2: Quy mô tập đoàn TC-NH trong 100 TĐKT lớn nhất thế giới năm 2011 (Đơn vị tính: tỷ USD)

Nhóm tập đoàn Số lượng Tỷ trọng số lượng (%) Tổng tài sản Tỷ trọng tài sản (%) Số lượng tập đoàn có tài sản > 1.000 tỷ USD Tỷ trọng tài sản nhóm > 1.000 tỷ USD (%)
Tập đoàn tài chính 31 31,0 38.385 66,3 18 95,5
TĐKT khác 69 69,0 19.518 33,7 1 4,5

(Nguồn: Luận án tổng hợp và tính toán từ Fortune/tài liệu quốc tế)

Luận án chỉ ra rằng trong 100 tập đoàn hàng đầu thế giới, dù chỉ chiếm 31% về số lượng nhưng các tập đoàn TC-NH nắm giữ tới gần 2/3 tổng giá trị tài sản. Trong 19 tập đoàn có quy mô tài sản vượt 1.000 tỷ USD, có tới 18 tập đoàn tài chính ngân hàng (như JP Morgan Chase: 2.117 tỷ USD, BNP Paribas: 2.680 tỷ USD, HSBC: 2.468 tỷ USD), trong khi chỉ có duy nhất 1 tập đoàn phi tài chính là Societe Generale (1.300 tỷ USD).

Luận án phân tích ba mô hình tổ chức tập đoàn TC-NH cơ bản:

  1. Mô hình ngân hàng đa năng (Universal Banking): Một định chế ngân hàng trực tiếp thực hiện mọi chức năng thương mại, đầu tư, môi giới chứng khoán và bảo hiểm dưới cùng một pháp nhân hoặc không tách biệt vốn độc lập (phổ biến tại Đức, Thụy Sĩ).
  2. Mô hình công ty sở hữu tài chính (Financial Holding Company): Công ty mẹ thuần túy nắm giữ vốn và thực hiện chức năng quản trị chiến lược, không trực tiếp kinh doanh; các công ty con chuyên doanh độc lập từng lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm (điển hình tại Mỹ, Nhật Bản như Citigroup).
  3. Mô hình công ty mẹ - con (Parent - Subsidiary Relationship): NHTM đóng vai trò là công ty mẹ, vừa trực tiếp hoạt động ngân hàng vừa sở hữu cổ phần chi phối tại các công ty con hoạt động ở lĩnh vực tài chính khác.

Chương 1 cũng tổng kết bài học kinh nghiệm thực tiễn từ hai mô hình tập đoàn tài chính quốc tế là HSBC Holdings (Anh/Hồng Kông) và OCBC Group (Singapore), rút ra các điều kiện cần (môi trường kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính phát triển, khung pháp lý cho phép) và điều kiện đủ (năng lực tài chính, quản trị rủi ro, hệ thống công nghệ thông tin, chất lượng nguồn nhân lực) để hình thành tập đoàn.

Chương 2: Sự cần thiết hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng từ ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 (trang 57 - 119) phân tích thực trạng hệ thống NHTM Việt Nam và các NHTM CP có trụ sở trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2000 - 2011. Tác giả chứng minh tính tất yếu khách quan của việc hình thành tập đoàn TC-NH nhằm nâng cao quy mô vốn, tạo sự cộng hưởng chuỗi giá trị sản phẩm (bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng - bancassurance, dịch vụ ngân hàng đầu tư), tối ưu hóa chi phí quản lý và tăng sức đề kháng trước rủi ro hội nhập.

Tuy nhiên, qua khảo cứu thực trạng, luận án chỉ rõ 8 nhóm hạn chế cơ bản kìm hãm tiến trình này:

  1. Hạn chế về khung pháp lý: Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Doanh nghiệp thời kỳ này chưa có quy định pháp lý rõ ràng, hoàn chỉnh về quy chế thành lập, cơ chế quản lý giám sát hợp nhất và giới hạn sở hữu chéo đối với mô hình tập đoàn tài chính.
  2. Hạn chế về thị trường tài chính - tiền tệ: Thị trường vốn, thị trường cổ phiếu và trái phiếu còn non trẻ, độ sâu tài chính thấp, tính minh bạch chưa cao.
  3. Hạn chế về cơ cấu tổ chức và nhân sự: Bộ máy quản trị chưa theo chuẩn mực quốc tế, thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia phân tích tài chính, chuyên gia định giá và nhân sự quản trị rủi ro cấp cao.
  4. Hạn chế về năng lực tài chính: Quy mô vốn điều lệ của phần lớn các NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh còn rất nhỏ so với các ngân hàng trong khu vực Đông Nam Á, hệ số an toàn vốn còn mỏng và dễ bị tổn thương.
  5. Hạn chế về sản phẩm dịch vụ: Danh mục sản phẩm còn đơn điệu, chủ yếu dựa vào thu nhập lãi thuần từ tín dụng truyền thống; các sản phẩm tài chính phái sinh, tư vấn quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư (Merchant bank) còn sơ khai.
  6. Hạn chế về chất lượng tài sản và nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2005 - 2011 có xu hướng gia tăng nhanh do tăng trưởng tín dụng nóng vào các lĩnh vực phi sản xuất, bất động sản và sở hữu chéo phức tạp giữa các tổ chức tín dụng.
  7. Hạn chế về ứng dụng công nghệ thông tin: Phần mềm ngân hàng lõi (Core Banking) tại nhiều NHTM CP chưa đồng bộ, chưa tích hợp được hệ thống cơ sở dữ liệu chung giữa ngân hàng mẹ và các công ty con chứng khoán, bảo hiểm.
  8. Hạn chế về mạng lưới và hợp tác quốc tế: Khả năng mở rộng chi nhánh ra nước ngoài hạn chế, tính liên kết với các định chế tài chính toàn cầu chưa sâu rộng.

Chương 3: Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng từ ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Chương 3 (trang 120 - 180) đề xuất mô hình, cấu trúc bộ máy và lộ trình giải pháp khả thi dựa trên Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2020.

Tác giả đề xuất mô hình tổ chức tập đoàn TC-NH phù hợp nhất cho các NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn trước mắt là mô hình Công ty mẹ - con (trong đó NHTM hạt nhân đóng vai trò công ty mẹ sở hữu chi phối các công ty con chuyên ngành) và từng bước chuyển dịch sang mô hình Công ty sở hữu tài chính (Financial Holding Company) khi thị trường vốn hoàn thiện.

Luận án phân tích ba con đường/giải pháp thực tiễn để hình thành tập đoàn:

  1. Sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại (M&A) giữa các NHTM CP trên địa bàn: Tự nguyện liên kết giữa các NHTM CP có quy mô vừa và nhỏ nhằm tích tụ tư bản, gia tăng quy mô tổng tài sản, mở rộng mạng lưới giao dịch và làm sạch bảng cân đối kế toán.
  2. M&A giữa NHTM CP với các định chế tài chính phi ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế: NHTM CP chủ động mua lại hoặc sáp nhập với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm trong nước hoặc bán cổ phần cho các tập đoàn tài chính nước ngoài để tiếp nhận công nghệ và năng lực quản trị.
  3. Tự nâng cấp và phát triển từ một NHTM CP có tiềm lực mạnh: Dành cho một số ít ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô vốn lớn, thị phần vững chắc và hệ thống quản trị hiện đại, tự thành lập mới các công ty con chuyên doanh và nâng cấp tổ chức thành tập đoàn.

Đồng thời, luận án đưa ra ba nhóm kiến nghị bổ trợ:

  • Kiến nghị đối với Chính phủ: Ban hành khung pháp lý chính thức về tập đoàn tài chính, xây dựng cơ chế bảo hộ cạnh tranh lành mạnh, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
  • Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hoàn thiện quy chế giám sát hợp nhất (Consolidated Supervision) đối với toàn tập đoàn tài chính; kiểm soát chặt chẽ tình trạng sở hữu chéo và đầu tư ngoài ngành; hỗ trợ kỹ thuật thanh khoản và tái cơ cấu nợ xấu trong quá trình sáp nhập, hợp nhất.
  • Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh: Xây dựng cơ chế ưu đãi về mặt bằng kinh doanh, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ trung tâm tài chính Thành phố, ban hành chính sách thu hút nguồn nhân lực quản lý tài chính chất lượng cao.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận: Làm rõ nội hàm khái niệm tập đoàn tài chính - ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi; hệ thống hóa các đặc trưng, các hình thức liên kết và tiêu chí định lượng chuẩn quốc tế (Chỉ thị 2002/87/EC của EU, Đạo luật GLB của Mỹ); so sánh ưu - nhược điểm của ba mô hình tổ chức tập đoàn TC-NH cơ bản.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn: Đánh giá toàn diện bức tranh hoạt động của hệ thống NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2011; nhận diện chính xác 8 nhóm rào cản nội tại và nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của hệ thống ngân hàng đô thị.
  3. Đóng góp về giải pháp và chính sách: Đề xuất cấu trúc mô hình tập đoàn TC-NH phù hợp với điều kiện thực tế tại TP. Hồ Chí Minh; xác lập ba lộ trình hình thành cụ thể qua các hình thức M&A và tự nâng cấp nội lực; xây dựng hệ thống khuyến nghị đồng bộ cho Chính phủ, NHNN và chính quyền địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án gắn liền với phạm vi dữ liệu dừng lại ở năm 2011 và bối cảnh pháp lý thời điểm năm 2012 khi Việt Nam chưa ban hành các văn bản pháp luật quy định riêng biệt về tập đoàn tài chính. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, do đó các phân tích thực trạng chưa bao quát đầy đủ nhóm ngân hàng thương mại nhà nước hoặc các ngân hàng có trụ sở chính tại các địa phương khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá định lượng tác động của các thương vụ M&A ngân hàng đến hiệu quả hoạt động sau sáp nhập, khảo sát mô hình tập đoàn tài chính toàn diện trên phạm vi toàn quốc và nghiên cứu cơ chế giám sát rủi ro hệ thống theo chuẩn mực Basel II, Basel III trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng hành lang pháp lý, hoàn thiện quy chế giám sát hợp nhất và chính sách tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng.
  • Hội đồng quản trị và Ban điều hành các NHTM CP: Tham khảo để xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, hoạch định các thương vụ M&A, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm tài chính và tái cấu trúc mô hình quản trị doanh nghiệp.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về kinh tế học ngân hàng, định chế tài chính trung gian và quản trị tập đoàn kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ thị 2002/87/EC của Liên minh Châu Âu quy định những tiêu chí nào để xác định một tập đoàn tài chính? Chỉ thị 2002/87/EC đưa ra ba điều kiện: (1) Có ít nhất một công ty hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng/chứng khoán và ít nhất một công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm; (2) Tỷ lệ tổng tài sản thuộc lĩnh vực tài chính trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40%; (3) Tỷ lệ trung bình về tài sản của mỗi lĩnh vực tài chính so với tổng tài sản tập đoàn phải lớn hơn 10%, hoặc tổng tài sản của công ty tài chính nhỏ nhất phải đạt trên 6 tỷ Euro.

2. Theo Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (1999) của Mỹ, điều kiện an toàn vốn đối với công ty sở hữu tài chính gồm những gì? Đạo luật GLB (1999) quy định các công ty con thuộc tập đoàn phải được quản lý tốt và thỏa mãn ba tỷ lệ an toàn vốn: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) đạt 10%, tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu đạt 6%, và đòn cân nợ (vốn cấp 1 / tổng tài sản) đạt ít nhất 5%.

3. Tác giả luận án đề xuất những phương thức cụ thể nào để xây dựng tập đoàn TC-NH từ NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh? Luận án đề xuất ba phương thức: (1) Sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại (M&A) giữa các NHTM CP trên địa bàn; (2) M&A giữa NHTM CP trên địa bàn với các định chế tài chính phi ngân hàng, tổ chức trong và ngoài nước; (3) Tự phát triển, nâng cấp từ một NHTM CP có đủ tiềm lực tài chính và điều kiện quản trị.

4. Ba mô hình tổ chức tập đoàn tài chính ngân hàng phổ biến trên thế giới được luận án phân tích là những mô hình nào? Ba mô hình gồm: Mô hình ngân hàng đa năng (Universal Banking), Mô hình theo cấu trúc sở hữu tài chính (Financial Holding Company) và Mô hình công ty mẹ - con (Parent - Subsidiary Relationship).

5. Luận án chỉ ra những nhóm hạn chế cơ bản nào của các NHTM CP tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2011? Luận án xác định 8 nhóm hạn chế: (1) Hạn chế từ yếu tố pháp lý; (2) Hạn chế về thị trường tài chính tiền tệ; (3) Hạn chế về cơ cấu tổ chức, nhân sự; (4) Hạn chế về năng lực tài chính; (5) Hạn chế về sản phẩm dịch vụ; (6) Hạn chế về chất lượng tài sản và nợ xấu; (7) Hạn chế về ứng dụng công nghệ thông tin; (8) Hạn chế về hệ thống mạng lưới và hợp tác quốc tế.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Văn Tuấn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế và tập đoàn tài chính - ngân hàng, đồng thời làm rõ kinh nghiệm quản trị và tiêu chuẩn an toàn vốn quốc tế. Thông qua việc phân tích thực trạng hệ thống NHTM CP tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2011, công trình đã chỉ ra các rào cản nội tại và khẳng định sự cần thiết khách quan của việc chuyển đổi mô hình kinh doanh. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất mô hình tổ chức, cấu trúc quản trị cùng ba lộ trình M&A và tự nâng cấp khả thi, đóng góp luận cứ khoa học cho tiến trình tái cơ cấu và hội nhập của hệ thống ngân hàng Việt Nam.