Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề cơ bản về quyền chọn chứng khoán 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền chọn chứng khoán Dấu hiệu của việc sử dụng quyền chọn đã xuất hiện trong các bài viết của Aristotle thời Hy Lạp cổ, kể về Thales – một người đàn ông sống năm 332 trước công nguyên - thỏa thuận một giá mua cố định với những người nông dân trồng cây ô liu trước mùa thu hoạch trái. Trong thỏa thuận Thales hứa với người nông dân sẽ mua trái ô liu với giá thỏa thuận dù thị trường trong mùa thu hoạch có biến động tăng hay giảm giá. Theo lời kể trong bài viết, mùa đó, giá ô liu tăng mạnh và Thales đã hưởng lợi từ thỏa thuận trên. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, không có một bằng chứng nào cho thấy quyền chọn được áp dụng phổ biến.
Sau này, thời Châu Âu hiện đại, giao dịch quyền chọn trên hàng hóa khá phổ biến tại Hà Lan khi người ta phát triển hoạt động mua bán hoa Tulip không chỉ trong nước mà mở rộng ra nước ngoài. Thế nhưng mãi đến cuối thế kỷ 17, thị trường quyền chọn mới được định hình tại London, Anh Quốc. Với thị trường quyền chọn London, quyền chọn mua và quyền chọn bán là những công cụ của thị trường. Vào đầu những năm 1900, một nhóm Công ty đã thành lập “Hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn”.
Mục đích của Hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau. Các nhà kinh doanh không gặp nhau trên thị trường, nhà đầu tư muốn mua quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc từ những Công ty thành viên khác, nếu không có người bán, Công ty sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp. Hoạt động của hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn có ba điểm yếu: (i) Không có thị trường thứ cấp, người mua quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn (ii) Không có kỹ thuật nào đảm bảo rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- (iii) Chi phí giao dịch tương đối cao Vào năm 1872, ông Russel – là một chính trị gia và là một nhà tài phiệt từ New York – đã giới thiệu quyền chọn vào giao dịch tại Mỹ. Nhưng bước ngoặc của lịch sử hợp đồng quyền chọn phải kể đến là năm 1973.
Năm 1973, Sở giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) - Sở giao dịch lâu đời nhất và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một sở giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu. Sở giao dịch này được đặt tên là Chicago Board of Options Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/04/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 06/1977. Vào thời kỳ đó chủ yếu trao đổi các cổ phiếu đơn lẻ. CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn.
Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Nói cách khác, một nhà đầu tư đã mua hoặc bán quyền chọn trước đó có thể quay trở lại thị trường trước khi hợp đồng đáo hạn và bán hoặc mua quyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu. Điểm mới và quan trọng nhất đó là CBOE đã bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Vì vậy, không giống như trên thị trường phi tập trung, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán.
Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn đối với công chúng. Năm 1983, CBOE tiếp tục tạo cuộc cách mạng trong ngành kinh doanh quyền chọn khi giới thiệu hợp đồng quyền chọn chỉ số giá chứng khoán cụ thể là hợp đồng quyền chọn trên chỉ số giá chứng khoán S&P100 và hợp đồng quyền chọn trên chỉ số giá chứng khoán S&P500. Từ thời điểm đó, nhiều Sở giao dịch chứng khoán và gần như tất cả Sở giao dịch giao sau bắt đầu giao dịch quyền chọn. Được kích thích bởi nhu cầu của công chúng về quyền chọn, ngành kinh doanh này tăng trưởng mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ nặng nề vào năm 1987.
Bị tổn hại bởi cú sốc này, nhiều nhà đầu tư cá nhân sử dụng quyền chọn trước đây đã tránh xa thị trường này và khối lượng giao dịch chỉ mới hồi phục ở mức năm 1987 trong thời gian gần đây. Mặc dù các giao dịch của các định chế trên Sở giao dịch quyền chọn vẫn tương đối mạnh sau vụ sụp đổ, một xu hướng đồng thời tồn tại đã buộc các Sở giao dịch phải đương đầu với mối đe dọa cạnh tranh mới là sự hồi sinh của các thị trường quyền chọn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- phi tập trung. Vào đầu thập niên 1980, nhiều công ty bắt đầu sử dụng hoán đổi tiền tệ và lãi suất để quản trị rủi ro. Do sự vận hành tốt của thị trường và ngay sau đó, các công ty bắt đầu tạo ra các dạng hợp đồng phi tập trung khác như hợp đồng kỳ hạn và như mong đợi, quyền chọn bắt đầu được sử dụng.
Tuy nhiên, định mức tối thiểu của mỗi giao dịch khá lớn và có rủi ro tín dụng, công chúng không thể tham gia vào thị trường phi tập trung mới nổi này. Sự phát triển của thị trường tập trung của các định chế này đã gây áp lực nặng nề lên các giao dịch quyền chọn. Vào đầu thập niên 1990, các Sở giao dịch cố gắng trở nên sáng tạo hơn để giành lại thị phần giao dịch của các định chế và kích thích mối quan tâm của công chúng đến các hợp đồng quyền chọn. Hiện nay, có một số lớn các thị trường quyền chọn phi tập trung được giao dịch chủ yếu bởi các nhà đầu tư tổ chức.
Chicago không còn là trung tâm của ngành kinh doanh quyền chọn. Quy mô thị trường này là trên toàn thế giới.2 Khái niệm và đặc điểm của quyền chọn chứng khoán Khái niệm quyền chọn chứng khoán Quyền chọn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó người mua quyền không nhất thiết phải thực hiện quyền, để mua hoặc bán một chứng khoán nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn. Đặc điểm của quyền chọn: - Tính phái sinh: Quyền chọn là một trong những công cụ tài chính phái sinh, bởi vì nó được hình thành trên cơ sở một loại tài sản khác như các loại hàng hóa, chứng khoán.
Do đó, các loại tài sản này được gọi là tài sản cơ sở. - Tính lựa chọn: Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh cung cấp quyền cho người nắm giữ quyền chọn chứ không phải nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hay bán. Nội dung trong các hợp đồng quyền chọn là sự thỏa thuận về quyền chọn trong tương lai giữa các bên, trên cơ sở đó hình thành mức phí mua quyền. - Tính kỳ hạn: Quyền chọn có ngày ký kết và ngày hết hiệu lực, khoảng thời gian từ ngày ký kết đến hết ngày hết hiệu lực là thời gian hiệu lực của quyền chọn.
- Tính thanh khoản: Các hợp đồng quyền chọn có thể được giao dịch, mua bán cả trên thị trường sơ cấp cũng như thị trường thứ cấp. Do đó, đã tạo cho sản phẩm này tính thanh khoản tương đối cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Phân loại quyền chọn Phân loại theo quyền của người mua - Quyền chọn mua (Call option): là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được mua (hoặc không mua) chứng khoán theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng. Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc bán loại chứng khoán này khi bên mua thực hiện quyền.1: Mô tả lợi nhuận trên quyền chọn mua Mất phí quyền chọn Lợi nhuận thuần trên Quyền chọn Giá thực Giá tài sản cơ sở - Quyền chọn bán (Put option): là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được bán (hoặc không bán) một loại chứng khoán theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc mua loại chứng khoán này khi bên mua thực hiện quyền.2: Mô tả lợi nhuận trên quyền chọn bán Lợi nhuận trên Giá thực Quyền chọn bán hiện Mất phí quyền chọn Giá tài sản cơ sở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Phân loại theo tập quán kinh doanh - Quyền chọn kiểu Mỹ (American Style Option): là quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền chọn đưa ra yêu cầu thực hiện quyền chọn vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến khi đáo hạn hợp đồng, kể cả vào ngày đáo hạn. Việc thanh toán sẽ xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ quyền chọn xác nhận. - Quyền chọn kiểu châu Âu (European Style Option): là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn. Việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ quyền chọn xác nhận vào ngày đáo hạn.
Ngoài các cách phân loại trên, quyền chọn cũng được phân loại theo tài sản cơ sở gồm: quyền chọn chỉ số chứng khoán, quyền chọn cổ phiếu, quyền chọn trái phiếu, quyền chọn trên hợp đồng giao sau.4 Quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng quyền chọn Bên bán quyền chọn: là bên phát hành quyền chọn. Sau khi thu phí quyền chọn phải có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch mua hoặc bán tài sản cơ sở đã thoả thuận trong hợp đồng với bên mua - khi bên mua thực hiện quyền trong thời hạn đã thoả thuận. Theo lý thuyết, bên bán quyền chọn có vùng lãi giới hạn còn vùng lỗ rất lớn. Do vậy, bên bán quyền chọn thường là các ngân hàng hoặc các công ty tài chính.