phần mở đầu và phần kết luận gồm ba chƣơng: CHƢƠNG 1. THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ TÀI LIỆU KHOA HỌC KỸ THUẬT Ở TỈNH ĐỒNG NAI: Tại chƣơng này chúng tôi khái quát giới thiệu về sự hình thành đặc điểm của các loại tài liệu khoa học kỹ thuật và ý nghĩa của tài liệu. Khái quát về các loại tài liệu, đặc điểm và ý nghĩa của tài liệu khoa học kỹ thuật của tỉnh Đồng Nai. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU THẬP VÀ BỔ SUNG TÀI LIỆU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀO LƢU TRỮ LỊCH SỬ TỈNH ĐỒNG NAI: Dựa trên khảo sát thực tế tại Chi cục Văn thƣ Lƣu trữ tỉnh Đồng Nai về tình hình thu thập tài liệu khoa học kỹ thuật.
Chúng tôi tìm hiểu về quá trình hình thành, chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Văn thƣ Lƣu trữ tỉnh Đồng Nai và thực trạng công tác thu thập tài liệu khoa học kỹ thuật và nhận 15 xét, đánh giá. CHƢƠNG 3: XÂY DỰNG QUY TRÌNH THU THẬP TÀI LIỆU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀO LƢU TRỮ LỊCH SỬ TỈNH ĐỒNG NAI: Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế của lƣu trữ lịch sử tỉnh Đồng Nai và việc xây dựng quy trình thu thập tài liệu do nhà nƣớc ban hành. Chúng tôi tiến hành xây dựng các bƣớc thu thập tài liệu khoa học công nghệ vào lƣu trữ lịch sử tỉnh Đồng Nai nói riêng và lƣu trữ lịch sử địa phƣơng nói chung. Trong thời gian thực hiện đề tài chúng tôi đã nhận đƣợc sự quan tâm và giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn bè cũng nhƣ đồng nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Liên Hƣơng – ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Do hạn chế về mặt kinh nghiệm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và những cán bộ chuyên môn để chúng tôi hoàn thiện luận văn. Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2015 Phạm Thị Mận 16 CHƢƠNG 1 THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ TÀI LIỆU KHOA HỌC KỸ THUẬT Ở TỈNH ĐÔNG NAI 1.
Khái quát về tài liệu khoa học kỹ thuật 1. Khái niệm về khoa học, kỹ thuật và tài liệu khoa học kỹ thuật a. Khái niệm khoa học Khoa học là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tƣ duy [13, tr12]. Khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát triển quy luật của sự vật và hiện tƣợng, vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra các nguyên lý, các giải pháp tác động vào các sự vật hiện tƣợng nhằm biến đổi trạng thái của chúng.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình thái ý thức xã hội. Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dƣới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra đƣợc về vũ trụ [69]. Từ những khái niệm trên chúng ta có thể khảng định, khoa học là hệ thống các tri thức về sự vận động, phát triển của tự nhiên và xã hội, là hoạt động tìm kiếm các giải pháp tác động vào các hiện tƣợng nhằm biến đổi chúng theo hƣớng có lợi hoặc có hại, là hoạt động có hệ thống và tìm ra quy luật vận động của tự nhiên và xã hội. Khái niệm về kỹ thuật Kỹ thuật là việc ứng dụng kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội, và thực tiễn để thiết kế, xây dựng, và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị, 17 hệ thống, vật liệu, và quá trình.[21] Kỹ thuật có thể bao gồm việc sử dụng sự hiểu biết sâu sắc để tìm ra, tạo mô hình, và thay đổi quy mô một giải pháp hợp lý cho một vấn đề hay một mục tiêu.
Ngành kỹ thuật vô cùng rộng, nó bao gồm một loạt các lĩnh vực kỹ thuật đặc thù hơn, mỗi lĩnh vực nhấn mạnh đến những lĩnh vực công nghệ và những kiểu ứng dụng riêng. Những ngƣời hành nghề kỹ thuật đƣợc gọi là kỹ sƣ. Tổ chức ECPD của các kỹ sƣ Hoa Kỳ định nghĩa "kỹ thuật" là "Việc ứng dụng một cách sáng tạo những nguyên lý khoa học vào việc thiết kế, phát triển các cấu trúc, máy móc, công cụ, quy trình chế tạo, hay những công trình sử dụng chúng một cách riêng lẻ hay kết hợp với nhau; vào việc xây dựng hay vận hành những đối tƣợng vừa kể với sự ý thức đầy đủ về thiết kế của chúng; để dự báo hoạt động của chúng dƣới những điều kiện vận hành nhất định; tất cả những việc vừa kể với sự chú ý đến chức năng đã định, đặc điểm kinh tế của sự vận hành, sự an toàn đối với sinh mạng và của cải". Trong tiếng Việt, các từ "khoa học", "kỹ thuật", và "công nghệ" đôi khi đƣợc dùng với nghĩa tƣơng tự nhau hay đƣợc ghép lại với nhau (chẳng hạn "khoa học kỹ thuật", "kỹ thuật công nghệ").
Tuy vậy, kỹ thuật khác với khoa học và công nghệ. Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dƣới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra đƣợc về vũ trụ. Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật là kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phƣơng pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt đƣợc một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Kỹ thuật là một ngành rộng và thƣờng đƣợc chia thành nhiều ngành con.
Những ngành này liên quan đến những lĩnh vực công việc kỹ thuật khác nhau. Mặc dù ban đầu ngƣời kỹ sƣ có thể đƣợc đào tạo trong một 18 ngành cụ thể, trong suốt sự nghiệp của mình ngƣời này có thể trở thành ngƣời làm việc liên quan đến nhiều ngành và trong những lĩnh vực công việc khác nhau. Kỹ thuật thƣờng đƣợc xem là có bốn ngành chính: Kỹ thuật hóa học: Ứng dụng những nguyên lý vật lý, hóa học, sinh học, và kỹ thuật trong việc thực hiện những quá trình hóa học ở quy mô sản xuất thƣơng mại, nhƣ lọc đầu, chế tạo vật liệu và thiết bị ở kích thƣớc micromét, lên men, sản xuất các phân tử sinh học. Kỹ thuật xây dựng: Thiết kế và xây dựng những công trình công cộng và cho tƣ nhân, nhƣ hạ tầng cơ sở (sân bay, đƣờng bộ, đƣờng sắt, hệ thống cấp nƣớc và hệ thống xử lý nƣớc.), cầu cống, đập nƣớc, và các tòa nhà.
Kỹ thuật điện: Thiết kế và nghiên cứu những hệ thống điện và điện tử khác nhau, nhƣ mạch điện, máy phát điện, động cơ điện, thiết vị điện từ hay điện cơ, thiết bị điện tử, mạch điện tử, cáp quang, thiết bị điện quang, hệ thống máy tính, hệ thống thông tin liên lạc, công cụ, những bảng điều khiển. Kỹ thuật cơ khí: Thiết kế những hệ thống vật lý hay cơ học, nhƣ hệ thống cung cấp điện và năng lƣợng, sản phẩm hàng không và không gian, hệ thống vũ khí, phƣơng tiện vận tải, động cơ đốt trong, bộ nén khí, tàu điện. Tài liệu khoa học kỹ thuật Trong thực tiễn của hoạt động nghiệp vụ lƣu trữ, khái niệm khoa học và công nghệ hầu nhƣ vẫn chƣa đƣợc quan tâm, sử dụng bởi các tài liệu lƣu trữ thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ vẫn thƣờng đƣợc hiểu là tài liệu khoa học kỹ thuật. Tài liệu khoa học kỹ thuật là những tài liệu có giá trị thực tiễn, khoa học, kinh tế, lịch sử đƣợc sản sinh trong quá trình hoạt động của các cơ 19 quan tổ chức cá nhân về các lĩnh vực xây dựng cơ bản, chế tạo sản phẩm công nghiệp, điều tra khảo sát tài nguyên thiên nhiên.không kể sản sinh trong thời kỳ nào và trên vật mang tin gì.
Khái niệm khoa học kỹ thuật đƣơc sử dụng trong cách phân loại các ngành khoa học, mà theo UNESCO các ngành khoa học bao gồm: Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp, khoa học nhăn văn, khoa học sức khoẻ. Khoa học kỹ thuật đƣợc hiểu là các ngành khoa học liên quan đến việc phát triển kỹ thuật và thiết kế các sản phẩm. Cụ thể, các ngành khoa học kỹ thuật cổ điển bao gồm khoa học kỹ thuật xây dựng, khoa học chế tạo máy, khoa học điện tử. Các ngành khoa học kỹ thuật mới bao gồm: kỹ thuật an toàn, kỹ thuật công trình nhà, hoá kỹ thuật và vi kỹ thuật.
Căn cứ vào những nội dung đã phân tích ở trên thì tài liệu khoa học kỹ thuật trong hoạt động lƣu trữ có một số vấn đề cần lƣu ý nhƣ sau: ◘ Về nội dung và hình thức - Về nội dung: tài liệu khoa học kỹ thuật do cơ quan, tổ chức, cá nhân làm ra theo chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, phản ánh kết quả thăm dò địa chất, thuỷ văn, về thiết kế các công trình xây dựng cơ bản bao gồm nhiều lĩnh vực nhƣ: xây dựng dân dụng, giao thông vận tải, thuỷ lợi, thuỷ điện, các công trình công nghiệp. Trong lĩnh vực công nghiệp tài liệu khoa học kỹ thuật phản ánh kết quả về thiết kế chế tạo các sản phẩm công nghiệp nhƣ máy móc, công cụ, máy công nghiệp, máy nông nghiệp, máy giao thông vận tải. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học thì tài liệu khoa học kỹ thuật phản ánh những thành tựu nghiên cứu khoa học, những phát minh, sáng chế, những cải tiến kỹ thuật trong lao động.
Trong lĩnh vực địa chất, khí tƣợng, thuỷ văn, trắc địa bản 20 đồ thì tài liệu khoa học kỹ thuật phản ánh kết quả quá trình điều tra khảo sát, thăm dò tài nguyên khoáng sản thiên nhiên. Do có nguồn gốc hình thành từ hoạt động khoa học kỹ thuật, nên dù thể hiện dƣới dạng nào thì tài liệu khoa học kỹ thuật cũng là tài liệu chứa đựng các tri thức khoa học đƣợc mã hoá dƣới dạng chữ viết, âm thanh, hình ảnh và đƣợc chứa đựng trong các vật mang tri thức khoa học khác nhau. - Về hình thức: tài liệu khoa học kỹ thuật có nhiều loại phong phú nhƣ: Bản luận chứng kỹ thuật, bản vẽ, tài liệu tính toán, dự toán, báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát, phim ảnh, bản đồ, tài liệu quan trắc, hƣớng dẫn ứng dụng tài liệu khoa học kỹ thuật, tài liệu thẩm định các đĩa cứng, đĩa mền.