phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới và vai trò của báo chí trong việc xây dựng nông thôn mới - Chƣơng 2: Thực trạng thông tin về xây dựng nông thôn mới trên “Sao Thần Nông” và “Nông thôn chuyển động” của kênh truyền hình VTC16 - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng chƣơng tình truyền hình về xây dựng nông thôn mới. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam bản chất là hiện đại hóa nông thôn, công nghiệp hóa nông nghiệp; xây dựng và phát triển nông thôn một cách toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Ngƣời nông dân ở đây vừa là chủ thể, đồng thời vừa là đối tƣợng trong công cuộc cải tạo đó. Cũng vậy, văn hóa, văn minh nông nghiệp vừa là điểm tựa, vừa là đối tƣợng cải hoán.
Do đó, đây là một quá trình phức tạp, lâu dài, cần những bƣớc đi thích hợp; tránh nóng vội, duy ý chí. Báo chí không chỉ là ngƣời tuyên truyền chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, cổ vũ phong trào mà còn phản biện, theo sát bƣớc đi của phong trào ở từng địa phƣơng để không chỉ nêu ra những gƣơng điển hình, những nhân tố mới mà còn giúp điều chỉnh chính sách, điều chỉnh công tác chỉ đạo, điều hành. Để thực hiện đề tài nghiên cứu về truyền hình với xây dựng nông thôn mới, học viên phải sử dụng kiến thức liên ngành, cần đến những khái niệm công cụ của báo chí, văn hóa, chính trị, xã hội học.1 Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống, cơ bản của Việt Nam và nhiều nƣớc trên thế giới; là ngành sản xuất sử dụng đất đai, mặt nƣớc để trồng trọt và chăn nuôi (trong đó bao gồm cả trồng và khai thác rừng, nuôi trồng và khai thác thủy sản…) để tạo ra lƣơng thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp phục vụ nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu. Sản xuất nông nghiệp trƣớc đây mang tính chất tự cấp, tự túc, dựa trên sức ngƣời; ngày nay trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, đƣợc công nghiepj hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ.
Trong tƣơng lai, sản phẩm nông nghiệp ngày càng có giá trị, nông 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng, thiết yếu, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của mọi nền kinh tế.2 Nông dân Là những ngƣời sống ở nông thôn (làng), sản xuất nông nghiệp, làm nghề thủ công và một phần dịch vụ.3 Nông thôn Theo quan điểm hành chính thì nông thôn là địa bàn không phải thành phố, thị xã, thị trấn và đƣợc quản lý bằng ủy ban nhân dân xã. Tuy vậy, khái niệm nông thôn ở đây đƣợc dùng với nghĩa rộng hơn, theo quan niệm truyền thống là làng, xã và những vùng còn sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, diêm nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và buôn bán nhỏ) là chủ yếu; dù địa bàn đó đã thuộc về thành phố (nhƣ các huyện Hà Tây cũ thuộc Thủ đô Hà Nội). Về văn hóa, xã hội, nông thôn có cố kết cộng đồng chặt chẽ từ trong gia đình, họ tộc đến làng xã; đồng hƣơng huyện, tỉnh. Đặc trƣng này thể hiện trên rất nhiều khía cạnh, bao gồm quan hệ giao tiếp, phong tục tập quán, đời sống tinh thần, cách thức sinh hoạt, hệ giá trị, chuẩn mực hành vi, hệ thống hạ tầng, dịch vụ… Nông thôn là vùng có nhịp điệu sống chậm hơn thành thị, nơi có nhiều giá trị văn hóa đƣợc bảo tồn nhƣng cũng là nơi có trình độ kinh tế, văn hóa phát triển chậm, ngƣời dân có mức sống thấp; nơi sản sinh và duy trì các tƣ tƣởng bảo thủ.
Nông thôn là nơi có nguồn nhân lực dồi dào nhƣng ít lao động đƣợc đào tạo… 1.4 Nông thôn mới Nông thôn mới là một khái niệm tƣơng đối. Nông thôn hiện nay đã là nông thôn mới so với trƣớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, so với thời chống Mỹ. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Nông thôn mới” trong luận văn đƣợc hiểu là nông thôn đạt các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới đƣợc ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009 do Phó Thủ tƣớng Nguyễn Sinh Hùng ký. Xây dựng nông thôn mới là Chƣơng trình mục tiêu quốc gia do Thủ tƣớng phê duyệt ngày 4-6-2010 bằng Quyết định 800 / QĐ-TTg.
Đó là một nông thôn có có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bƣớc hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; an ninh trật tự đƣợc giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao; theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.5 Văn hóa Văn hóa theo nghĩa rộng là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu của mình. Văn hóa mang ý nghĩa tiến bộ, nhân văn, vừa có tính phổ quát nhân loại vừa mang tính đặc thù của vùng miền, dân tộc. “Văn hóa” đƣợc hiểu ở đây nhƣ những giá trị tinh thần, tức là một nghĩa hẹp hơn. Năm 2002, UNESCO trong Tuyên bố chung về đa dạng văn hóa đã đƣa ra dịnh nghĩa vè văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp của những đặc trƣng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phƣơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
Năm 1943, phía sau bìa cuốn Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh ghi: “Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, tr.431, NXB Chính trị quốc gia, 1995). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhằm miêu tả những nội dung mà văn hóa bao hàm, nhà nhân loại học ngƣời Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) xác định: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con ngƣời thu nhận đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội”. Dƣới góc nhìn nhân bản và lịch sử, Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học ngƣời Mỹ cho rằng: “Văn hóa chính là bản thân con ngƣời, cho dù là những ngƣời hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm đƣợc bảo tồn theo truyền thống”.
Dựa trên chuẩn mực thì ngƣời ta lại nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị. Nhà xã hội học Mỹ William Isaac Thomas (1863 - 1947) coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm ngƣời nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cƣ xử,. Các nhà tâm lý học nhấn mạnh văn hóa là quá trình thích nghi với môi trƣờng. Viện sĩ William Graham Sumner (1840 - 1910) giáo sƣ Đại học Yale coi tổng thể những thích nghi của con ngƣời với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh.
Tuy các khái niệm trên có những điểm khác nhau nhƣng đều có những điểm giống nhau cơ bản sau: Thứ nhất, văn hoá là những biểu hiện cơ bản của con ngƣời trong quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển, đồng thời là những hoạt động nhận thức thực tiễn nhằm tạo ra những biến đổi của xã hội, của môi trƣờng xung quanh và bản thân con ngƣời .Thứ hai, văn hóa tác động theo ba quá trình: quá trình cải tạo vật chất, quá trình cải tạo cơ cấu xã hội, quá trình cải tạo tâm lý xã hội (quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời).Thứ ba, văn hóa là sản phẩm có tính cộng đồng, từ đó triển khai thành một sản phẩm có tính cá nhân với tƣ cách là một thành viên của cộng đồng.Thứ tƣ, văn hoá có các đặc trƣng riêng và những chức năng khác nhau nhƣ: Văn hoá có tính hệ thống, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao gồm các mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tƣợng và sự kiện trong một nền văn hoá. Đặc trƣng hệ thống này tạo cho văn hoá chức năng tổ chức xã hội, làm nền tảng ổn định cho xã hội. Văn hoá có tính giá trị, bao gồm giá trị vật chất và tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị đồng đại, giá trị lịch đại. Đặc trƣng giá trị tạo cho văn hoá có chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì trạng thái cân bằng động.
Văn hoá có tính nhân sinh, phân biệt hiện tƣợng văn hoá xã hội và văn hoá tự nhiên. Đặc tính nhân sinh tạo cho văn hoá chức năng giao tiếp. Văn hoá có tính lịch sử, nó đƣợc hình thành và tích lũy qua nhiều thời đại và đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hoá. Đặc tính này tạo cho văn hoá có chức năng giáo dục và chức năng phát sinh.6 Văn hóa nông nghiệp Biểu hiện tinh hoa của văn hóa tinh thần ở thƣợng tầng kiến trúc là văn học nghệ thuật.
Biểu hiện chủ yếu của văn hóa trong đời sống sinh hoạt là ứng xử của con ngƣời với con ngƣời. “Văn hoá nông nghiệp” là một khái niệm chỉ phƣơng cách tổ chức đời sống, phƣơng thức tƣ duy, cách ứng xử… của những cƣ dân nông nghiệp. Văn hóa nông nghiệp sản sinh và và phát triển trên nền tảng của ngành trồng trọt, thƣờng tập trung ở các vùng đồng bằng, miền núi phƣơng Đông. Nguồn gốc kinh tế là dựa vào trồng trọt là chủ yếu, từ đó tạo cho con ngƣời có thói quen thích ổn định và sống định cƣ.
Có thể xem kinh tế nông nghiệp thuộc trạng thái “tĩnh” – ổn định.