Tổng quan nghiên cứu

Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang là cơ sở đào tạo giáo viên trọng điểm tại tỉnh Khánh Hòa với quy mô thường xuyên từ 1.000 đến 1.500 sinh viên. Trải qua 28 năm xây dựng và trưởng thành, trường đã cung cấp 5.689 giáo viên trung học cơ sở và tiểu học cho địa phương cùng các tỉnh lân cận như Phú Yên, Đắk Lắk, Gia Lai. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thị trường, quá trình hình thành nhân cách của sinh viên sư phạm chịu sự tác động đa chiều từ đời sống kinh tế - xã hội. Bên cạnh phần lớn sinh viên giữ vững phẩm chất mô phạm, một bộ phận người học xuất hiện biểu hiện giảm sút niềm tin chính trị, thụ động trong học tập và chạy theo lối sống thực dụng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất, cấu trúc và quy luật vận động của nhân cách sinh viên sư phạm dưới góc độ Triết học Mác - Lênin. Đề tài tập trung phân tích thực trạng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và năng lực chuyên môn của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang trong giai đoạn 1996 - 2004. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nhà trường, gia đình và đoàn thể xã hội. Công trình hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên xếp loại học tập khá giỏi lên trên 50%, giảm tỷ lệ vi phạm quy chế thi cử và triệt tiêu 20% sinh viên có ý thức học tập yếu kém, góp phần chuẩn hóa nguồn nhân lực giáo dục chất lượng cao cho tỉnh Khánh Hòa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử về bản chất con người. Theo luận điểm kinh điển của Karl Marx, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, là thể thống nhất hữu cơ giữa yếu tố sinh học tự nhiên và yếu tố xã hội lịch sử. Nhân cách không phải là thuộc tính bẩm sinh bất biến mà được hình thành, phát triển thông qua hoạt động thực tiễn, giao tiếp và giáo dục. Nghiên cứu cũng kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục toàn diện, coi trọng sự thống nhất biện chứng giữa Đức và Tài, trong đó đạo đức cách mạng là gốc rễ và tài năng chuyên môn là thước đo giá trị hiện thực của người thầy giáo.

Khung lý thuyết của luận văn tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi: nhân cách, nhân cách sinh viên sư phạm, xã hội hóa cá nhân và công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nhân cách sinh viên sư phạm được xác định là chỉnh thể thống nhất gồm 2 thành tố cơ bản: phẩm chất chính trị - đạo đức hướng thiện và hệ thống năng lực sư phạm chuyên sâu. Quá trình phát triển nhân cách của người học được quy định bởi 3 yếu tố nền tảng bao gồm tiền đề sinh học thể chất, môi trường giáo dục xã hội và thế giới quan khoa học của cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập từ cuộc điều tra xã hội học với cỡ mẫu 356 sinh viên thuộc 4 khoa chuyên môn tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, bao gồm: 108 sinh viên khoa Tự nhiên, 115 sinh viên khoa Xã hội, 85 sinh viên khoa Ngoại ngữ và 48 sinh viên khoa Tiểu học. Ngoài ra, tác giả triển khai một phiếu khảo sát chuyên sâu trên 100 sinh viên nhằm đo lường trung thực học đường. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể hơn 1.200 sinh viên toàn trường theo từng chuyên ngành đào tạo.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa định tính và định lượng nhằm kiểm chứng tính quy luật triết học bằng số liệu thống kê thực chứng. Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử - logic và phương pháp tiếp cận hệ thống - cấu trúc giúp đánh giá toàn diện các chiều kích nhân cách. Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ báo cáo tổng kết đào tạo giai đoạn 1996 - 2004 của Phòng Đào tạo nhà trường. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 8 năm để theo dõi sự biến đổi nhận thức và hành vi của sinh viên qua các khóa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, động cơ học tập và lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên thể hiện định hướng tích cực. Kết quả khảo sát 356 sinh viên cho thấy có 84,3% người học chọn trường vì tình cảm yêu nghề sâu sắc, 32,7% kỳ vọng vào mức thu nhập ổn định, 15,1% chọn theo định hướng gia đình và 7,02% theo bạn bè. Điểm chuẩn đầu vào tăng liên tục qua các năm, điển hình như khối A tăng từ 15 điểm năm học 1996 - 1997 lên 22 điểm năm học 2000 - 2001, điểm chuẩn khối Tiểu học tăng gấp 2 lần từ 9 điểm lên 18 điểm trong cùng giai đoạn.

Thứ hai, kết quả học tập và rèn luyện nghiệp vụ của sinh viên có chuyển biến rõ rệt. Tỷ lệ tốt nghiệp trung bình 10 năm gần đây luôn đạt trên 95%. Riêng năm học 2003 - 2004, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 95,19% với 218 trên tổng số 299 sinh viên, trong đó sinh viên đạt loại khá giỏi chiếm 31%, loại xuất sắc và ưu tú có 55 cá nhân. Học kỳ 1 năm học 2003 - 2004 ghi nhận 246 sinh viên đạt loại tốt và hoàn toàn không có sinh viên xếp loại yếu kém.

Thứ ba, thái độ tự học và nề nếp kỷ luật thi cử vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Khảo sát về thời gian tự học ghi nhận 45% sinh viên học 2 - 4 tiếng mỗi ngày, 26% học trên 5 tiếng, nhưng vẫn còn 22% học 1 - 2 tiếng và 7% hầu như không tự học. Khảo sát 100 sinh viên về hiện tượng gian lận cho thấy có 38% sinh viên mang tài liệu vào phòng thi, 30% trao đổi bài trong giờ làm bài và 22% trực tiếp sử dụng tài liệu bị cấm.

Thứ tư, mức độ hào hứng đối với các hoạt động chính trị - xã hội có sự phân hóa sâu sắc. Sinh viên đặc biệt ưa thích các hoạt động mang tính giải trí, giao lưu như câu lạc bộ sở thích đạt tỷ lệ 80%, nghe nói chuyện văn hóa nghệ thuật đạt 78%, tổ chức dạ hội đạt 70%. Ngược lại, các hoạt động có tính chất nghiệp vụ và giáo dục chính trị lại nhận được sự quan tâm thấp: sinh hoạt đoàn thể chỉ đạt 41% mức ưa thích, thi nghiệp vụ sư phạm đạt 38% và sinh hoạt chính trị thời sự chỉ đạt 24%, trong khi có tới 26% sinh viên phản hồi không thích sinh hoạt thời sự.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa trong kết quả rèn luyện phản ánh mâu thuẫn nội tại giữa nhận thức lý tưởng và áp lực đời sống vật chất. Tác động từ mặt trái cơ chế thị trường đã thúc đẩy tâm lý an phận, học đối phó để lấy bằng cấp. Dữ liệu khảo sát thực trạng có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua một biểu đồ tròn mô tả 4 nhóm động cơ chọn nghề để làm nổi bật 84,3% sinh viên yêu nghề sư phạm. Đồng thời, một bảng so sánh đa tiêu chí giữa mức độ yêu thích các hoạt động câu lạc bộ 80% đối chiếu với sinh hoạt chính trị 24% sẽ thể hiện rõ nét xu hướng tâm lý lứa tuổi thanh niên. So với các công trình nghiên cứu về thanh niên sinh viên cùng thời kỳ, nghiên cứu khẳng định sinh viên sư phạm giữ vững chuẩn mực đạo đức cơ bản nhưng cần được đổi mới mạnh mẽ về phương thức tổ chức hoạt động giáo dục chính trị để tránh xơ cứng, hình thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ban Giám hiệu cùng Tổ Chính trị cần chuyển đổi phương pháp thuyết giảng thụ động sang đối thoại mở, thảo luận chuyên đề và giải quyết tình huống thực tế. Mục tiêu đặt ra là kéo giảm tỷ lệ sinh viên thờ ơ với sinh hoạt chính trị từ 26% hiện nay xuống dưới 8% trong giai đoạn 2 năm tiếp theo.

Thứ hai, tái cấu trúc mô hình hoạt động của Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên theo hướng đa dạng hóa sân chơi học thuật. Ban Chấp hành Đoàn trường cần lồng ghép nội dung rèn luyện nhân cách vào các câu lạc bộ kỹ năng, các đợt tình nguyện hè và phong trào hiến máu nhân đạo. Target metric hướng đến việc thu hút trên 85% đoàn viên tham gia tự giác các chương trình rèn luyện, duy trì mục tiêu kết nạp ít nhất 15 đảng viên mới là sinh viên ưu tú mỗi năm.

Thứ ba, siết chặt kỷ cương học đường và cải tiến phương thức kiểm tra đánh giá năng lực sư phạm. Phòng Đào tạo cùng Ban Chủ nhiệm 5 khoa chuyên môn cần chuẩn hóa ngân hàng đề thi, tăng cường giám sát phòng thi để triệt tiêu 38% hiện tượng mang tài liệu vào phòng thi trong vòng 12 tháng. Nhà trường cần khuyến khích 100% sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và kiến tập sư phạm thực tế tại các trường phổ thông.

Thứ tư, hoàn thiện cơ sở vật chất ký túc xá và kiến tạo môi trường sư phạm văn minh, mẫu mực. Ban Quản trị nhà trường phối hợp với chính quyền tỉnh Khánh Hòa đầu tư mở rộng không gian tự học trên diện tích 43.000 m2, đảm bảo 100% sinh viên nội trú được tiếp cận nguồn học liệu điện tử, nâng thời gian tự học đạt chuẩn trên 3 tiếng mỗi ngày cho ít nhất 90% người học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường cao đẳng, đại học sư phạm trên toàn quốc. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn và bộ chỉ số định lượng về 1.200 sinh viên giúp xây dựng chiến lược quản trị đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách người thầy giáo.

Nhóm thứ hai là đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị, triết học và tâm lý - giáo dục học. Cán bộ giảng dạy có thể khai thác khung lý thuyết hệ thống hóa từ tư tưởng Hồ Chí Minh và dữ liệu thực nghiệm 356 mẫu khảo sát để cập nhật giáo trình, tối ưu hóa phương pháp truyền đạt.

Nhóm thứ three là cán bộ Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên trong hệ thống các trường chuyên nghiệp. Cán bộ đoàn thể có thể ứng dụng bảng khảo sát 13 dạng hoạt động thanh niên để thiết kế phong trào phù hợp tâm lý lứa tuổi, tăng tỷ lệ đoàn viên tham gia từ 41% lên mức cao hơn.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Xã hội học và Giáo dục học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp kết hợp phân tích duy vật biện chứng với điều tra xã hội học trong 28 năm hình thành và phát triển của một cơ sở đào tạo địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm nhân cách sinh viên sư phạm được định nghĩa như thế nào trong nghiên cứu? Nhân cách sinh viên sư phạm là chỉnh thể thống nhất của các năng lực và phẩm chất tâm - sinh - xã hội, đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi. Cấu trúc này bao gồm đạo đức chính trị trong sáng và năng lực nghiệp vụ dạy học vững vàng.

Điểm sáng nổi bật nhất trong thực trạng nhân cách của sinh viên trường là gì? Điểm sáng lớn nhất là động cơ chọn nghề rất trong sáng với 84,3% sinh viên xác định gắn bó vì yêu nghề. Tỷ lệ tốt nghiệp trung bình luôn duy trì trên 95% và chất lượng tuyển sinh đầu vào tăng liên tục, thể hiện qua điểm chuẩn khối A đạt 22 điểm.

Nguyên nhân căn bản nào dẫn tới tỷ lệ 38% sinh viên còn vi phạm quy chế thi cử? Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ tâm lý thực dụng, học đối phó để lấy điểm số của một bộ phận sinh viên thiếu phương pháp tự học. Bên cạnh đó, việc buông lỏng kiểm tra ở một số khâu và ảnh hưởng tiêu cực từ các khóa trước đã làm suy giảm tính tự giác.

Tại sao sinh viên có xu hướng ít yêu thích các buổi sinh hoạt chính trị thời sự? Khảo sát cho thấy chỉ có 24% sinh viên thích sinh hoạt thời sự do hình thức truyền đạt tại chi đoàn còn đơn điệu, khô cứng và nặng tính áp đặt. Sinh viên lứa tuổi 18 - 21 thường có xu hướng tìm đến các hoạt động văn hóa nghệ thuật sôi nổi chiếm 78% mức yêu thích.

Hệ thống giải pháp của luận văn tập trung vào khâu đột phá nào? Khâu đột phá trọng tâm là kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị với siết chặt kỷ luật thi cử. Giải pháp hướng tới việc biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, phát huy tính chủ thể tự rèn luyện của 100% sinh viên sư phạm.

Kết luận

  • Công trình luận văn thạc sĩ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách sinh viên sư phạm.
  • Dữ liệu thực nghiệm từ 356 sinh viên phản ánh chân thực bức tranh nhân cách với 84,3% sinh viên yêu nghề nhưng còn tồn tại 38% vi phạm quy chế thi.
  • Luận văn xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, kết nối đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức đoàn thể địa phương.
  • Định hướng tiếp theo trong giai đoạn 3 đến 5 năm tới là mở rộng mô hình khảo sát liên trường sư phạm trên địa bàn toàn quốc và nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên trẻ.
  • Quý độc giả và các nhà nghiên cứu hãy khai thác ngay tài liệu khoa học này để áp dụng vào công tác giảng dạy, quản lý và bồi dưỡng nhân cách thế hệ nhà giáo tương lai.