mở đầu cho phong trào nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm. Cũng từ đây, Weent chủ động sử dụng phương pháp mới vào nghiên cứu và phát triển tâm lý học đó là phương pháp sử dụng trắc nghiệm làm công cụ khảo sát tâm lý. 6 Năm 1890, thuật ngữ trắc nghiệm được sử dụng rộng rãi sau khi cuốn sách: “Các trắc nghiệm và đo lường trí tuệ” được xuất bản tại New York, tác giả là nhà tâm lý học người Mỹ J. Trong tác phẩm này Cattell đã đưa ra khái niệm trắc nghiệm trí tuệ để chỉ ra bằng chứng tâm lý khác biệt giữa các cá nhân.
Từ đó trắc nghiệm được hiểu theo nghĩa rộng là công cụ, phương tiện, cách thức để khảo sát và đo lường tâm lý. Một năm sau đó, Joseph M.Rice xử lý thành công kết quả trắc nghiệm bằng phương pháp toán học. Sang đầu thế kỉ XX, E. Thorndike, người đầu tiên dùng trắc nghiệm như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức HS, bắt đầu áp dụng trắc nghiệm cho một số môn học và sau đó là đối với một số loại kiến thức khác.
Ở Pháp năm 1904, nhà tâm lý học Alfred Binet được giới lãnh đạo nhà trường ở Paris yêu cầu xây dựng một phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần mà không thể tiếp thu theo cách dạy bình thường được. Trắc nghiệm Binet, mang tên nhà phát minh này, được ra đời từ đó. Trắc nghiệm Binet khảo sát rất trực tiếp, nó yêu cầu những kỹ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và có một kho thông tin cho những câu trả lời. Các điểm số được cho theo tuổi trí lực (mental - age).
Nếu một em nhỏ tuổi hơn mà có thể trả lời cùng các câu hỏi của phần lớn các em ở độ tuổi lên mười chẳng hạn, thì người ta nói em này có độ tuổi trí lực là mười tuổi [23 tr211]. Mặc dù vậy, phương pháp trắc nghiệm thời bấy giờ ờ Pháp phát triển rất chậm chạp và ít được sử dụng. Mãi đến sau thế chiến thứ hai, trắc nghiệm thành tích học tập mới được sử dụng bên cạnh kiểm tra cổ điển. Tuy nhiên, đến thập niên 60 nó được phát triển rất mạnh và được sử dụng phổ biến ở cả các trường phổ thông lẫn đại học.
Rôxôlimô đã đưa ra phương pháp trắc nghiệm tâm lý, tác phẩm của ông ngay lập tức được dịch ra tiếng Đức và được sự chú ý nhiều ở Tây Âu và Mỹ. Cũng trong năm này, loạt trắc nghiệm do Munsterberg xây dựng dùng cho công tác tuyển chọn nghề nghiệp cũng đã góp phần đáng kể vào sự phát triển chung việc sử dụng trắc nghiệm. 7 Năm 1912, nhà tâm lý học Đức - V. Stern đưa ra khái niệm hệ số thông minh (Intelligence quotient) viết tắt là IQ.
Đây là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ, đặc trưng cho một đứa trẻ nào đó. Hệ số này chỉ ra sự thông minh trước hoặc sau so với tuổi thời gian của một cá nhân nào đó. Đến năm 1916, giáo sư tâm lý tại trường Stanford - Mỹ đã cùng với cộng sự của mình hai lần cải tổ trắc nghiệm thông minh của Binet để dùng cho trẻ em Mỹ. Bản cải tiến này gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet và bài trắc nghiệm này được sửa lại một lần nữa vào năm 1960.
Từ 1926 đến 1931, Liên Xô có một số nhà sư phạm tại Matxcơva, Lêningrat, Kiep dùng trắc nghiệm để chuẩn đoán đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểm tra kiến thức HS. Tuy nhiên trắc nghiệm thời bấy giờ chưa hoàn chỉnh cũng như chưa được phát hiện hết những nhược điểm nên bị phản đối sử dụng. Và chỉ từ năm 1963 việc sử dụng trắc nghiệm mới được phục hồi. Lúc này rất nhiều công trình nghiên cứu trắc nghiệm cho những môn học khác nhau của các nhà nghiên cứu như: E.
Craxmianscaia (1963), … Năm 1940, Hoa Kỳ đã xuất hiện nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá năng lực học tập của HS và một số trắc nghiệm nhóm như: trắc nghiệm Alpha, trắc nghiệm Bêta (xuất hiện trong thế chiến thứ nhất) để tuyển chọn nghề nghiệp quân sự. Những bài trắc nghiệm phục vụ quân sự này nhằm kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo cá biệt của binh sĩ để bố trí vào những vị trí phù hợp với năng lực, thể lực của họ. Trong đó trắc nghiệm Alpha là trắc nghiệm viết, trắc nghiệm Bêta là trắc nghiệm sử dụng công cụ. Cả hai bài trắc nghiệm đều là trắc nghiệm nhóm và được chấm khách quan.
Đến năm 1961, Mỹ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn [15 tr36]. Tiếp theo đó là công trình Ghecbêrich dùng máy tính điện tử để xử lý trắc nghiệm trên diện rộng xuất hiện vào năm 1963. Lúc bấy giờ, Hội đồng quốc gia hàng năm ở Anh đã có quyết định cho các trắc nghiệm chuẩn dùng trong các trường trung học. Các thành tựu lý luận quan trọng của khoa học về đo lường trong giáo dục đạt được cho đến thập niên 70 của thế kỷ trước là “lý thuyết trắc nghiệm cổ điển” 8 (classical test theory).
Còn bước phát triển về chất của nó trong khoảng 4 thập niên vừa qua là“lý thuyết trắc nghiệm hiện đại” hoặc“lý thuyết đáp ứng câu hỏi” (Item Response Theory – IRT). IRT đã đạt được những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm và trên cơ sở lý thuyết đó, công nghệ trắc nghiệm thích ứng máy tính (Computer Adaptive Test – CAT) ra đời. Ngoài ra trên cơ sở của những thành tựu của IRT và ngôn ngữ học máy tính, công nghệ Criterion chấm tự động các bài thi tự luận tiếng Anh nhờ máy tính của EST đã được triển khai qua mạng Internet trong mấy năm qua [30 tr16]. Những năm gần đây trắc nghiệm được sử dụng phổ biến và sâu rộng tại nhiều nước trên thế giới để kiểm tra cuối môn ở bậc phổ thông cũng như đại học, điển hình là: Anh, Mĩ, Pháp, Nga, Úc, Nhật, Bỉ, Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc.
Tại Việt Nam Trắc nghiệm khách quan được người Việt Nam biết đến khá muộn màng. Lần đầu tiên sinh viên Việt Nam được làm quen với trắc nghiệm khách quan thông qua các cuộc khảo sát ngoại ngữ do các cơ quan quốc tế tổ chức tại Việt Nam vào đầu thập niên 50 thế kỉ XX (sau hơn một thế kỉ kể từ lúc nó bắt đầu xuất hiện). Tính đến cuối thập niên này tài liệu về tài liệu sư phạm về trắc nghiệm của nước ta rất thiếu thốn, chỉ có một vài bài viết về lĩnh vực tâm lý và giáo dục đăng trên tập san giáo dục từ năm 1960. Kỳ thi trắc nghiệm đầu tiên của nước ta là kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm 1966 và chỉ được thi với ba môn là Lịch sử, Địa lý và Công dân.
Đến cuối năm 1969, môn trắc nghiệm thành quả học tập mới được đưa vào giảng dạy ở các lớp cao học và tiến sĩ giáo dục học tại trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1972, các nhà giáo dục Việt Nam bắt đầu quan tâm đến trắc nghiệm thành quả học tập. lần đầu tiên nước ta cho thi trắc nghiệm loại câu nhiều lựa chọn đối với tất cả các môn là vào năm 1974 tại miền Nam và thực hiện trong hai khoá thi Tú tài liên tiếp[35 tr167]. Tuy nhiên, phải đến thập niên cuối của thế kỉ này trắc nghiệm khách quan nước ta mới có bước trở mình.
Tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu vào khoảng thời gian này được xuất bản nhiều hơn, trong đó đáng lưu ý là: “Trắc nghiệm kiến 9 thức kỹ thuật nông nghiệp ở trường trung học phổ thông” của tác giả Châu Kim Lang - xuất bản năm 1988, “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (tập 1 - 2)” của tác giả Dương Thiệu Tống - xuất bản năm 1995 và quyển “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập” của đồng tác giả Nguyễn Phụng Hoàng và Võ Thị Ngọc Lan - xuất bản năm 1996. Một dấu mốc đáng lưu ý nữa là kỳ thi tuyển đại học thí điểm tại trường Đại học Đà Lạt năm 1996 bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan mà sự thành công tốt đẹp của nó được Hội nghị rút kinh nghiệm của BGD&ĐT khẳng định. Kỳ thi có 7200 thí sinh dự tuyển, có hai loại đề trắc nghiệm và tự luận được sử dụng để thí sinh lựa chọn, có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề trắc nghiệm. Và kết quả trong gần 60 trường hợp vi phạm kỷ luật thi do quay cóp thì chỉ có 4 thí sinh từ nhóm làm trắc nghiệm.
Bước sang thế kỉ mới, BGD&ĐT chú ý phát triển việc KTĐG bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan thông qua việc: Cử nhiều chuyên gia ra nước ngoài học tập, hội thảo tập huấn được tổ chức ở các trường như: Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Cao đẳng sư phạm Hà Nội, .; Những năm gần đây BGD&ĐT đã đưa một số CHTN khách quan lồng ghép với câu hỏi tự luận trong các SGK một số môn học ở trường phổ thông trong những năm tới sẽ hoàn thành công việc này ở bậc THPT; Bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 BGD&ĐT có chủ trương tổ chức thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đối với các môn: Lí, Hoá, Sinh và Tiếng Anh. Tất cả hứa hẹn cho một tương lai về sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp trắc nghiệm khách quan ở Việt Nam. Các khái niệm liên quan 1. Trắc nghiệm Trắc nghiệm có gốc tiếng Anh là Test, nghĩa là: thử, phép thử, sát hạch.
Theo nghĩa chữ Hán thì: “Trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực”[25 tr61]. Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông (2001) của viện ngôn ngữ học thì: “Trắc nghiệm là khảo sát, đo lường khi làm các thí nghiệm khoa học trong phòng”. Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm là công cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái (behavior) để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so sánh với một nhiệm vụ học tập dự kiến” [35 tr364]. Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund như sau: Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể [25 tr61].
Lâm Quang Thiệp, trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định.