Tổng quan nghiên cứu

Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là khâu khởi đầu mang tính quyết định trong toàn bộ chu trình lập pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt động này đã trải qua quá trình hoàn thiện thể chế rõ nét: từ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 với 3 điều luật, phát triển lên 8 điều trong Luật năm 2008, và đạt bước tiến đột phá tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 với 21 điều luật chuyên biệt (từ Điều 31 đến Điều 51). Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ những bất cập thực tiễn khi chương trình làm luật vẫn thường xuyên phải điều chỉnh, nhiều dự án luật phải kéo dài từ quy trình 2 kỳ họp lên 3 hoặc 4 kỳ họp, và tỷ lệ sáng kiến lập pháp của đại biểu Quốc hội còn rất khiêm tốn so với cơ quan hành pháp.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về lập chương trình, đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật trong giai đoạn 2016 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao kỷ cương lập pháp. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác lập tại Việt Nam, kết hợp so sánh lập pháp với 5 quốc gia trên thế giới gồm Pháp, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc và Kyrgyzstan. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc định hình cơ chế hoạch định chính sách độc lập trước khi soạn thảo, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ văn bản phải xin lùi hoặc rút khỏi chương trình xuống dưới mức 10%, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và hiệu lực thực thi của hệ thống pháp luật quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về tính tối thượng của Hiến pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước; Lý thuyết chu trình chính sách công (Public Policy Cycle) với trọng tâm là phân đoạn hoạch định chính sách tiền lập pháp; và Lý thuyết đánh giá tác động quy định (RIA). Mô hình nghiên cứu phân định rõ quy trình lập pháp thành hai giai đoạn độc lập: giai đoạn xác lập, đánh giá, phê duyệt chính sách và giai đoạn soạn thảo, thông qua văn bản quy phạm pháp luật.

Khung phân tích của đề tài vận hành xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:

  • Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: chuỗi hoạt động xác định danh mục dự án và thời điểm trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét.
  • Đánh giá tác động của chính sách (RIA): phương pháp khoa học xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, chi phí và lợi ích của từng đề xuất chính sách theo quy định tại Điều 35 Luật năm 2015.
  • Quyền sáng kiến lập pháp: quyền đệ trình đề nghị hoặc dự án luật ra trước cơ quan lập pháp tối cao.
  • Thẩm định và thẩm tra chính sách: hai cơ chế kiểm soát chất lượng độc lập do Bộ Tư pháp và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội chủ trì thực hiện.

Quy trình này phải tuân thủ nghiêm ngặt 6 nguyên tắc cơ bản theo Điều 5 Luật năm 2015, kết hợp chặt chẽ với 2 nguyên tắc đặc thù là nguyên tắc ưu tiên thể chế hóa chủ trương của Đảng và nguyên tắc bảo đảm tính khả thi thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 63 hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trong giai đoạn từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 6 năm 2019, cùng hệ thống các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV (tiêu biểu như Nghị quyết số 22/2016/QH14, Nghị quyết số 34/2017/QH14 và Nghị quyết số 57/2018/QH14). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 63 đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh được đệ trình chính thức, áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và không bỏ sót bất kỳ biến động lập pháp nào trong suốt hơn 3 năm thực thi luật mới.

Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê định lượng và phương pháp diễn dịch - quy nạp. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu trực quan mô hình lập pháp tập trung và phân tán của các quốc gia, đo lường chính xác tỷ lệ phân bổ dự án luật qua từng kỳ họp, đồng thời lý giải các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự thiếu ổn định của chương trình làm luật. Timeline nghiên cứu được triển khai tập trung trong giai đoạn 2018 - 2019 với dữ liệu đối chiếu hồi tố xuyên suốt 23 năm (1996 - 2019).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ quan hành pháp giữ vai trò thống trị gần như tuyệt đối trong việc đề xuất chính sách lập pháp. Trong tổng số 63 đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh giai đoạn 2016 - 2019, Chính phủ đã đệ trình 62 dự án luật (chiếm tỷ lệ 98.4%), trong khi khối các cơ quan tư pháp và đại biểu Quốc hội chỉ đóng góp 1 dự án (chiếm tỷ lệ 1.6%, cụ thể là đề xuất dự án Luật Hành chính công của đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh).

Thứ hai, khối lượng dự án luật phân bổ không đồng đều qua các năm và các kỳ họp Quốc hội. Năm 2017 chứng kiến số lượng kỷ lục với 29 dự án luật được Chính phủ đề nghị thông qua (gồm 16 dự án tại kỳ họp thứ 3 và 13 dự án tại kỳ họp thứ 4), cao gấp 1.93 lần so với năm 2019 (chỉ có 15 dự án luật, gồm 5 dự án tại kỳ họp thứ 7 và 10 dự án tại kỳ họp thứ 8). Năm 2018 ghi nhận 18 dự án luật được chia đều cho 2 kỳ họp thứ 5 và thứ 6.

Thứ ba, chất lượng xây dựng báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) còn nhiều hạn chế. Theo ước tính từ thực tiễn thẩm định, khoảng 70% báo cáo RIA chưa định lượng được chính xác chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và nguồn lực tài chính thực thi, dẫn đến việc nhiều dự án bị kéo dài thời gian thảo luận hoặc phải chuyển từ quy trình xem xét 2 kỳ họp sang 3 hoặc 4 kỳ họp.

Thứ tư, tính ổn định của chương trình xây dựng luật chưa cao khi tỷ lệ dự án phải điều chỉnh thời điểm trình, xin rút hoặc bổ sung khẩn cấp vẫn dao động trong khoảng từ 15% đến 20% mỗi năm, làm ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thẩm tra của các cơ quan Quốc hội.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ việc khâu tổng kết thi hành pháp luật phần lớn do chính các bộ, ngành chuyên môn tự thực hiện mà thiếu sự tham gia độc lập của các viện nghiên cứu hoặc tổ chức xã hội, dẫn đến tình trạng nhìn nhận chính sách còn mang tính cục bộ ngành. Bên cạnh đó, năng lực dự báo kinh tế - xã hội chưa theo kịp thực tiễn khiến các nhu cầu lập pháp mới phát sinh dồn dập, tạo áp lực điều chỉnh chương trình.

So sánh quốc tế cho thấy, tại các quốc gia như Pháp hay Canada, mặc dù Chính phủ cũng kiểm soát chương trình nghị sự lập pháp nhưng quy trình kiểm duyệt chính sách nội bộ được thực hiện cực kỳ khắt khe. Tại Nhật Bản, cơ chế phối hợp liên bộ và tham vấn chuyên gia chuyên trách được tiến hành ngay từ khâu ý tưởng, giúp triệt tiêu nguy cơ xung đột lợi ích.

Dữ liệu nghiên cứu thực trạng có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột thể hiện sự biến động số lượng dự án luật qua 3 năm (29 dự án năm 2017, 18 dự án năm 2018 và 15 dự án năm 2019), kết hợp cùng bảng ma trận đối sánh thẩm quyền nhằm phân định rõ ranh giới giữa hoạt động thẩm định của Bộ Tư pháp và hoạt động thẩm tra của Ủy ban Pháp luật Quốc hội, loại bỏ tình trạng trùng lắp nghiệp vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa quy trình đánh giá tác động chính sách (RIA). Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp cùng Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ ban hành bộ công cụ định lượng chi phí - lợi ích bắt buộc cho 100% hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đặt mục tiêu giảm tỷ lệ dự án phải chuyển quy trình từ 2 kỳ họp sang 3 kỳ họp xuống dưới 5%, hoàn thành lộ trình chuẩn hóa trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đề xuất. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ áp dụng chế tài đánh giá trách nhiệm công vụ đối với lãnh đạo các bộ, ngành có dự án luật xin rút hoặc lùi thời hạn trình không vì lý do bất khả kháng, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ điều chỉnh chương trình ngoài kế hoạch xuống dưới mức 10% mỗi nhiệm kỳ từ năm 2020 trở đi.

Thứ ba, thiết lập cơ chế phản biện xã hội và tham vấn chuyên gia khoa học độc lập. Văn phòng Quốc hội phối hợp cùng Bộ Tư pháp xây dựng mạng lưới chuyên gia tư pháp độc lập tham gia phản biện chính sách tiền lập pháp, hướng tới mục tiêu đạt trên 80% hồ sơ đề nghị có báo cáo phản biện độc lập trước năm 2023.

Thứ tư, nâng cao năng lực và bảo đảm nguồn lực thực thi quyền sáng kiến lập pháp của đại biểu Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo Viện Nghiên cứu lập pháp cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và chuyên gia cho các đại biểu Quốc hội, đặt mục tiêu có ít nhất 3 đến 5 dự án luật do đại biểu Quốc hội đề xuất được đưa vào chương trình chính thức trong giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Đại biểu Quốc hội và cán bộ chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Pháp luật, Hội đồng Dân tộc, Viện Nghiên cứu lập pháp): Nắm bắt phương pháp thẩm tra hồ sơ chính sách, nâng cao năng lực kiểm soát tính hợp hiến và chủ động hiện thực hóa quyền sáng kiến lập pháp trong thực tế.

Thứ hai, Cán bộ pháp chế tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và chuyên viên Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật thuộc Bộ Tư pháp: Vận dụng quy trình 4 bước lập đề nghị, chuẩn hóa hồ sơ đánh giá tác động RIA và tối ưu hóa quy trình phối hợp liên ngành trước hạn chót ngày 01 tháng 3 hằng năm.

Thứ ba, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật học: Sử dụng công trình như tài liệu chuyên khảo giá trị cho các học phần Xây dựng văn bản pháp luật, Lý luận Nhà nước và Pháp luật với hệ thống 63 dẫn chứng thực tiễn chuẩn xác.

Thứ tư, Chuyên gia tư vấn chính sách, luật sư và đại diện các hiệp hội doanh nghiệp: Hiểu rõ cơ chế vận động chính sách hợp pháp để chủ động tham gia đóng góp ý kiến phản biện xã hội ngay từ giai đoạn đề xuất lập chương trình.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm đổi mới căn bản nhất của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trong công tác lập chương trình là gì? Luật năm 2015 đã bãi bỏ chương trình cả nhiệm kỳ để chuyển sang chương trình hằng năm, quy định chi tiết tại 21 điều luật. Điểm cốt lõi là tách bạch khâu hoạch định, đánh giá tác động chính sách (RIA) trước khi chính thức soạn thảo văn bản, giúp khắc phục triệt để tình trạng luật khung, luật ống trong thực tế.

  2. Vì sao cơ quan hành pháp chiếm tỷ lệ áp đảo trong các đề nghị xây dựng luật? Trong giai đoạn 2016 - 2019, Chính phủ chiếm 62 trên 63 đề án (đạt 98.4%) do nắm giữ bộ máy thực thi chuyên trách, am hiểu sâu sắc các vướng mắc kinh tế - xã hội. Ngược lại, đại biểu Quốc hội chưa có bộ phận trợ lý lập pháp chuyên biệt và kinh phí hỗ trợ để tự xây dựng hồ sơ chính sách hoàn chỉnh.

  3. Báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) có vai trò bắt buộc như thế nào? Theo Điều 35 Luật năm 2015, báo cáo RIA là tài liệu bắt buộc phải phân tích rõ 6 nội dung: vấn đề cần giải quyết, mục tiêu, giải pháp, tác động tích cực - tiêu cực, chi phí - lợi ích và tác động thủ tục hành chính. Đây là cơ sở khoa học tối quan trọng để Quốc hội quyết định chấp thuận đưa dự án vào chương trình.

  4. Hoạt động thẩm định của Bộ Tư pháp khác hoạt động thẩm tra của Ủy ban Pháp luật như thế nào? Thẩm định theo Điều 39 do Bộ Tư pháp thực hiện trong nội bộ nhánh hành pháp nhằm kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp trước khi trình Chính phủ. Trong khi đó, thẩm tra theo Điều 47 do Ủy ban Pháp luật chủ trì nhằm đánh giá sự cần thiết, thứ tự ưu tiên và thời điểm trình trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết.

  5. Những nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến tình trạng phải liên tục điều chỉnh chương trình làm luật? Thực tiễn ghi nhận 15% đến 20% dự án phải điều chỉnh do công tác khảo sát thực tế còn sơ sài, dự báo chính sách chưa sát và tiến độ chuẩn bị hồ sơ giữa các bộ ngành còn chậm trễ, không đáp ứng kịp thời hạn thẩm định trước ngày 01 tháng 3 hằng năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc nền tảng lý luận và 6 nguyên tắc cốt lõi về lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành Luật năm 2015 thông qua bộ dữ liệu 63 hồ sơ đề nghị trong giai đoạn 2016 - 2019.
  • Nhận diện trực diện khoảng trống thể chế khi cơ quan hành pháp chiếm 98.4% đề xuất và tình trạng điều chỉnh chương trình còn xảy ra thường xuyên.
  • Tổng kết kinh nghiệm lập pháp quốc tế từ 5 quốc gia phát triển nhằm chắt lọc các bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện Việt Nam.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với trách nhiệm thể chế và lộ trình thực thi rõ ràng giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để chuẩn hóa quy trình chính sách tiền lập pháp, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Trong các bước tiếp theo của giai đoạn 2021 - 2025, việc thể chế hóa quy trình RIA độc lập cần được ưu tiên triển khai mạnh mẽ. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ lập pháp hãy tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả những giải pháp hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật hiện đại!