Mở đầu là người Sumeria, họ có đến 20 hãng sản xuất bia. Ở thời điểm đó, do không được lọc nên bia có màu đục, khi uống phải dùng ống hút. Dần dần, ngành nấu bia được phổ biến sang các nước lân cận trong vùng Lưỡng Hà. Ở triều đại Babylon cổ, vua Hammurabi có đạo luật sản xuất bia phân phối cho mọi người như một phần ăn, không được bán mà chỉ trao đổi bằng lúa mạch.
Ở thời Cộng hòa La Mã, bia từng được yêu thích lại bị hất hủi sau khi có sự xuất hiện của rượu vang. Ở thời Trung cổ các tu viện được coi là nơi sản xuất bia hàng đầu, khi pha chế các tu sĩ thường thêm nhiều loại thảo mộc khác nhau vào bia để cải thiện hương vị, bảo quản lâu hơn. Hoa bia bắt đầu được trồng và khai thác tại Pháp vào thế kỷ thứ 9, giống hoa này tạo nên vị đắng và bảo quản hương vị lâu hơn. Từ thời Trung cổ ở châu Âu, bia thường được sản xuất trong hộ gia đình, đến khoảng thế kỷ 14 và 15 thì chuyển sang hoạt động thủ công.
Ở Anh trong thế kỷ 15, loại bia không chứa hoa bia thường được gọi là ale, bia có chứa hoa bia thì gọi là “bia” (beer). Đến thế kỷ 16, các loại bia có nồng độ cao và bia sử dụng hoa bia đều được gọi là ale. 2 Hình 1-1: Hoa bia (hoa houblon) William IV, Công tước xứ Bavaria, đã thông qua Reinheitsgebot (Luật tinh khiết) vào năm 1516. Trước năm 1857, Reinheitsgebot quy định thành phần của bia chỉ bao gồm nước, lúa mạch hoa bia.
Đến năm 1857 được bổ sung thêm men bia sau phát kiến của Louis Pasteur (1822-1895). Thời gian sau Reinheitsgebot của người Bavaria đã được áp dụng trong cả nước Đức và đến ngày nay, Reinheitsgebot vẫn được coi là tiêu chuẩn của độ tinh khiết cho bia, mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh nó. Đến thế kỷ 16, trong một lần tình cờ khi bia được lưu trữ ở hầm lạnh một thời gian dài, nhờ vậy dòng bia lager (bia lạnh) đã được phát hiện và sản xuất nhiều hơn ale. Vào cuối thế kỷ 19, trong các cuộc cách mạng công nghiệp, việc sản xuất bia nhỏ lẻ không còn đáng kể và được chuyển từ thủ công sang công nghiệp.
Đồng thời sự ra đời và phát triển của phù kế - nhiệt kế cũng đã thay đổi việc làm bia. Ngày nay, bia đã trở thành một loại thức uống phổ biến được ưa thích nhất trên thế giới, ngành công nghiệp bia phát triển vượt bật, nó trở thành một nền kinh doanh toàn cầu. Các loại bia Bia ngày một đa dạng hơn về hình thức cũng như chủng loại, mỗi loại đều có một hương vị cũng như đặc trưng riêng. Bia Ale: Đây là loại bia được sản xuất bằng lên men nổi, và nó thông thường được lên men ở nhiệt độ cao hơn so với bia lager (15-23°C, 60-75°F).
Bia Lager: Đây là loại bia được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Lager có nguồn gốc từ vùng Trung Âu, men bia lager là loại lên men chìm. Lên men tự nhiên: Để làm bia này người ta thường dùng men bia hoang dã thay cho các loại men bia được nuôi cấy. Loại bia hỗn hợp: Hay còn được gọi là bia lai, loại bia có đặc trưng pha trộn của cả ale và lager.
Vai trò sản phẩm So với các loại thức uống khác, bia có nhiều ưu điểm như: So với các loại rượu khác, bia có độ cồn rất thấp (26%). Vì vậy, nếu sử dụng bia đúng cách sẽ giúp cơ thể thoải mái, dễ chịu, tăng sức bền. So với trà và cà phê, bia không chứa các kim loại có hại. Bia là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể, một lít bia có thể cung cấp cho cơ thể 400-800 Kcal.
Với hàm lượng CO2 khá cao (4 - 5g /L), bia giúp cơ thể giảm nhanh cơn khát và kích thích tiêu hóa tốt hơn. Khoảng 80% các chất hòa tan trong bia là cacbohydrat, 8 - 10% là các hợp chất chứa nitơ, 3 - 4% là các chất khoáng. Ngoài ra, bia còn chứa các khác như glyxerin, axit hữu cơ, một số vitamin như B1, B2, PP. 4 Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây còn phát hiện ra rằng nếu uống một lượng bia vừa phải mỗi ngày sẽ có tác dụng tốt cho tim mạch và não bộ, giúp cơ thể hưng phấn và hiệu quả hơn trong công việc.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bia hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam I. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới Cùng với sự tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển, thị trường tiêu thụ Bia đă phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là tại Châu Á. Tuy nhiên, dẫn đầu thị trường Bia vẫn là các nước phát triển, đặc biệt là tại các quốc gia Bắc Âu, có truyền thống về Bia. (Theo số liệu thống kê của tổng công ty Bia- Rượu-Nước giải khát Hà Nội) Bảng 1: 10 quốc gia tiêu thụ bình quân cao nhất TT Quốc gia Mức tiêu thụ bình quân Lít/người/năm 01 Séc 154 02 Đức 144 03 Ailen 134 04 Australia 120 05 Bỉ 114 06 New Zealand 111 07 Áo 108 08 Đan Mạch 107 09 Hungary 107 10 Anh 104 Châu Âu là khu vực có truyền thống về sản xuất và tiêu thụ Bia, có tới 8/10 quốc gia tiêu thụ bình quân đầu người cao nhất là thuộc về Châu Âu.
Bởi vậy, thật dễ hiểu khi Châu Âu vẫn luôn giữ vị trí dẫn đầu trong cơ cấu thị trường bia thế giới, chiếm 35,3% thị trường với lợi thế là khu vực đang phát triển, đồng thời tập trung 5 dân số đông nhất thế giới, Châu Á - Trung Đông nay đứng ở vị trí số 2 với tỷ lệ 26,5%. Tiếp theo là khu vực Bắc Mĩ, Nam Mỹ. Do mức chênh lệch về mặt bằng giá giữa các khu vực khác nhau trên thế giới, cũng như những tác động của thương hiệu và hệ thống phân phối tới giá cả, nên khó có thể đánh giá cơ cấu thị phần Bia thế giới theo thước đo giá trị. Bởi vậy, để hình dung về quy mô thị trường bia thế giới, ta có thể dựa vào chỉ số sản lượng.
Hiện nay, tổng sản lượng ngành công nghiệp bia thế giới ước đạt 140 tỉ lít/năm. Bảng 2: 10 thị trường Bia lớn nhất thế giới TT Quốc gia Sản lượng ( tỷ lít/năm) Thị phần 1 Trung Quốc 23,5 16,9% 2 Hoa Kỳ 23,4 16,5% 3 Đức 10,2 7,3% 4 Brazil 8,4 6,1% 5 Nhật 7,2 5,2% 6 Nga 6,2 4,5% 7 Anh 5,7 4,1% 8 Mexico 5,1 3,7% 9 Tây Ban Nha 3,0 2,2% 10 Ba Lan 2,5 1,8%. Việt Nam 1,29 Qua thống kê trên ta thấy quy mô dân số và thói quen tiêu dùng là yếu tố quyết định lớn nhất tới mức tiêu thụ Bia tại mỗi quốc gia. Các nước có thu nhập hàng đầu thế giới như Thuỵ Điển, Pháp, Thuỵ Sỹ, Phần Lan, Canada.
cũng như khu vực các nước hồi giáo Trung Đông giàu có đều không có mặt trong danh sách. 6 Những khu vực có mức tiêu dùng cao là Trung Âu, Đông á, Bắc – Trung Mỹ.Việt Nam cũng là một nước có văn hoá tiêu dùng Bia nhiều, vì thế trong những năm tới, khi nền kinh tế đạt tới mặt bằng phát triển nhất định tạo nên sự bùng nổ nhu cầu về Bia lần thứ 2 (lần thứ nhất 1995/1996). Bảng 3: Thị trường Bia ASEAN TT Quốc gia Dân số (Triệu Sản lượng Bia Tiêu dùng bình quân người) (Triệu lít) (lít/người/năm) 1 Philippines 80,80 1.292 15,99 4 Malaysia 24,64 180 7,31 5 Singapore 4,24 115 27,12 6 Indonesia 219,17 < 100 -- 7 Campuchia 12,42 < 50 -- 8 Myanmar 49,49 < 50 -- 9 Lào 5,55 < 50 -- 10 Brunei 0,404 < 50 -- 11 Đông Timor 0,808 < 50 -- (Theo số liệu thống kê của Tổng công ty Bia- Rượu-Nước giải khát Hà Nội) I. Tình hình sản xuất tại Việt Nam Năm 2019 tổng sản lượng sản xuất bia đạt hơn 5 tỷ lít (tăng 22.9% so với cùng kỳ năm 2018); tiêu thụ đạt hơn 4 tỷ lít (tăng 29.1% so với cùng kỳ năm trước).
Doanh thu thị trường bia đạt hơn 65 tỷ đồng (tăng 0.5% so với cùng kỳ năm trước). Về chủng loại tiêu thụ, tiêu thụ bia đóng lon chiếm 66.8% tổng tiêu thụ bia tại Việt Nam, tiếp theo là bia đóng chai 29.1% và chiếm 1 thị phần khiêm tốn là bia tươi 0. 7 Về nhập khẩu, sản lượng bia nhập khẩu đạt hơn 37 triệu lít (tăng trưởng 8.9% so với cùng kỳ năm 2018), 3 nguồn cung ứng bia chính của Việt Nam là Hà Lan (25%), Mexico (17%) và Bỉ (16%). So với lượng tiêu thụ bia tại Việt Nam, nhập khẩu bia vào Việt Nam chiếm tỷ trọng khá nhỏ.
Doanh nghiệp nội địa và FDI chiếm lĩnh thị trường bia trong nước, với ưu thế giá bia rẻ, hợp khẩu vị của đông đảo bộ phận khách hàng. Về xuất khẩu, sản lượng bia xuất khẩu tăng hơn năm trước đạt hơn 46 triệu lít, trị giá 45. Mức sản lượng xuất khẩu sụt giảm khoảng 7% so với cùng kỳ, chủ yếu là do chất lượng bia của Việt Nam chưa được đánh giá cao, chưa tạo được thương hiệu trên thị trường quốc tế. Guinea xích đạo (chiếm khoảng 20%) là thị trường tiêu thụ bia Việt Nam lớn nhất.
Trong khi Mexico và Hà Lan là 2 quốc gia cung cấp bia lớn nhất cho Việt Nam. Tình hình tiêu thụ trong thời dịch Trước năm 2020: Forbes dẫn báo cáo nghiên cứu của Tạp chí y khoa Lancet (Anh) về tình trạng sử dụng đồ uống có cồn tại 189 quốc gia và vùng lãnh thổ giai đoạn 1990 - 2017, cho thấy tỷ trọng tiêu thụ bia rượu trên toàn cầu đang có xu hướng tăng nhanh, nhất là ở các quốc gia có thu nhập thấp, trung bình như Việt Nam, Ấn Độ… 8 Hình 1-2: Lượng tiêu thụ đồ uống có cồn giai đoạn 2010-2017 Theo báo cáo này, tổng lượng tiêu thụ rượu trên toàn cầu mỗi năm từ 21 tỷ lít năm 1990 lên 35,7 tỷ lít vào 2017, tương đương tăng 70%. Tại khu vực Đông Nam Á, lượng tiêu thụ rượu đã tăng 34% trong vòng 7 năm (2010 - 2017). Ở giai đoạn này, Việt Nam lại là quốc gia có tốc độ tăng tiêu thụ rượu lớn nhất thế giới, gần 90% kể từ năm 2010.
Mức tăng tại Ấn Độ là 37,2%. Năm 2017 bình quân mỗi người Việt uống gần 9 lít đồ uống có cồn, con số này tại Ấn Độ là 5,9 lít; Nhật Bản là 7,9 lít. Trong một báo cáo công bố năm 2018, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đánh giá mức tiêu thụ rượu, bia của người Việt là cao so với các quốc gia khác trong khu vực.