Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học (Mã số: 931 02 04) với đề tài "Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong tình hình mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa" do nghiên cứu sinh Bùi Hồng Cẩn thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Minh Trưởng và PGS.TS. Nguyễn Minh Đức (Hà Nội, 2022). Công trình giải quyết một vấn đề mang tính nền tảng và cấp thiết của khoa học chính trị - quân sự Việt Nam: Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn để kế thừa, phát triển sáng tạo di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng vào chiến lược xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) cấp tỉnh, thành phố trong điều kiện lịch sử mới.
Bối cảnh khoa học của nghiên cứu được định hình từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", giữ nước từ khi nước chưa nguy, đặt trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực và toàn cầu diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến quyết liệt. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: "Đầu tư xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, khu vực phòng thủ quân khu thành khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới".
Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) cốt lõi được luận án định vị là: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ về căn cứ địa kháng chiến trong lịch sử hoặc nghiên cứu kỹ thuật - quân sự thuần túy về khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW (ngày 22/09/2008 của Bộ Chính trị khóa X), nhưng chưa có công trình độc lập nào hệ thống hóa hoàn chỉnh nội hàm lý luận của "Tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa" để xây dựng khung phân tích chuyển giao từ kinh nghiệm khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh nhân dân sang mô hình quản trị an ninh - quốc phòng hiện đại tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và kiểm chứng 3 giả thuyết tương ứng (Hypotheses - H):
- RQ1: Nội dung bản chất, quy luật vận động và giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa là gì? -> H1: Căn cứ địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh không đơn thuần là không gian địa lý quân sự mà là một chỉnh thể cấu trúc đa chiều bao gồm chính trị ("thế trận lòng dân"), quân sự, kinh tế - xã hội và văn hóa, trong đó nhân tố "lòng dân" giữ vai trò quyết định.
- RQ2: Thực trạng xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố tại Việt Nam từ năm 2008 đến nay bộc lộ những mâu thuẫn và bất cập gì khi soi chiếu từ di sản tư tưởng căn cứ địa? -> H2: Tồn tại sự mất cân đối giữa đầu tư hạ tầng kỹ thuật quân sự với việc xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần và cơ chế liên kết kinh tế - quốc phòng lưỡng dụng tại các địa phương.
- RQ3: Hệ giải pháp đột phá nào có khả năng hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để tối ưu hóa sức mạnh khu vực phòng thủ cấp tỉnh trong bối cảnh xung đột phi truyền thống và công nghệ cao? -> H3: Việc chuyển hóa các nguyên tắc xây dựng căn cứ địa (dựa vào dân, địa thế hiểm yếu, chính trị trọng hơn quân sự, tự lực tự cường) thành các chuẩn mực quản trị địa phương sẽ nâng cao năng lực tự bảo vệ của 63 tỉnh, thành phố theo phương châm "mỗi tỉnh là một pháo đài vững chắc".
Phạm vi nghiên cứu xác lập rõ ràng: Không gian khảo cứu thực chứng là các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam; thời gian khảo cứu tư tưởng trải dài từ giai đoạn khởi nguồn Pác Bó năm 1941 đến năm 1969; thời gian khảo nghiệm thực tiễn xây dựng khu vực phòng thủ được xác lập từ khi ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW (2008) đến năm 2022.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu của luận án phân tích và tổng hợp 4 dòng học thuật chính trong nước và quốc tế:
Thứ nhất, dòng lý luận kinh điển Marx - Lenin về bạo lực cách mạng và căn cứ địa. Ph.Ăngghen trong Tuyển tập Luận văn quân sự đã đặt nền móng phương pháp luận khi khẳng định căn cứ địa là yếu tố bảo đảm cho khởi nghĩa vũ trang của một dân tộc nhỏ yếu đánh thắng quân đội hùng mạnh nhờ chuẩn bị đầy đủ tiềm lực và đoàn kết toàn dân. V.I.Lênin phát triển quan điểm này qua thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga về việc xây dựng hậu phương chính trị - quân sự tại chỗ.
Thứ hai, trường phái lý luận chiến tranh nhân dân và căn cứ địa quốc tế. Mao Trạch Đông trong tác phẩm Bàn về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân (1938) nhấn mạnh căn cứ địa nông thôn rộng lớn để bao vây thành thị do "tính chất lâu dài và tàn khốc của chiến tranh cách mạng Trung Quốc". Luận án chỉ rõ sự khác biệt mang tính sáng tạo của Hồ Chí Minh: Trong khi Mao Trạch Đông nhấn mạnh yếu tố quy mô địa bàn nông thôn rộng lớn thuần túy, Hồ Chí Minh đã chọn Cao Bằng năm 1941 vừa có địa thế hiểm trở, vừa có cơ sở quần chúng giác ngộ cao, vừa "lại sát biên giới" nhằm duy trì sự liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế, tạo bàn đạp tiến công linh hoạt cả nông thôn lẫn đô thị.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu của học giả phương Tây về tư duy quân sự Hồ Chí Minh. Sử gia quân sự Bernard Fall trong Vietnam - Dernières réflexions sur une guerre (1967) nhận định sâu sắc rằng Hồ Chí Minh đã chỉ thị rút lực lượng kháng chiến khỏi các đô thị lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn) năm 1946 - 1947 để trở về các căn cứ địa rừng núi nhằm phát huy lòng yêu nước của nhân dân - điều mà ông gọi là "cái thật sự huyết mạch có tính chất sống còn" để đánh bại đối phương trang bị tối tân. Đồng quan điểm, P. Honey trong Genesis of a tragedy: The historical background to the Vietnam war (1968) chỉ rõ căn cứ địa - hậu phương tại chỗ trong chiến dịch Điện Biên Phủ chính là cội nguồn tạo nên ưu thế hậu cần áp đảo đối với quân đội viễn chinh Pháp. Nhà nghiên cứu Nga I. A. Kobelev (1985) trong tác phẩm Đồng chí Hồ Chí Minh khẳng định tư tưởng chọn Cao Bằng xây dựng căn cứ địa để đào tạo đội ngũ cán bộ trung kiên là cống hiến độc đáo quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thứ tư, dòng nghiên cứu học thuật và thực tiễn quân sự Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm của Trường Chinh (Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, 1946; Hồ Chí Minh và những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam, 1970), Võ Nguyên Giáp (Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, 1998), Trần Văn Trà (2002), Phùng Quang Thanh (2010), Ngô Xuân Lịch (2016), Nguyễn Bá Dương (2017) đã luận giải căn cứ địa từ nhiều bình diện lịch sử quân sự, chính trị học và nghệ thuật tác chiến.
Luận án đã nhận diện cuộc tranh luận học thuật cốt lõi: Một số quan điểm coi xây dựng khu vực phòng thủ trong thời bình chủ yếu là công tác quân sự đơn thuần (xây dựng hầm hào, công sự, căn cứ chiến đấu, diễn tập vũ trang). Luận án định vị vị trí học thuật bằng việc bảo vệ luận điểm đối lập: Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố là sự kế thừa quy luật xây dựng căn cứ địa toàn diện của Hồ Chí Minh, trong đó "chính trị trọng hơn quân sự", tiềm lực chính trị - tinh thần và "thế trận lòng dân" giữ vai trò nền tảng bao trùm.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án có những đóng góp học thuật đột phá trong việc làm sáng tỏ và phát triển hệ thống khái niệm của chuyên ngành Hồ Chí Minh học và Khoa học Quốc phòng:
- Khái niệm hóa hoàn chỉnh "Tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa": Luận án định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa là hệ thống các luận điểm, quan điểm khoa học và cách mạng về vị trí, vai trò, nguyên tắc, nội dung và phương thức xây dựng vùng đất đứng chân của cách mạng; là nơi xây dựng, bảo toàn và phát triển lực lượng, chuẩn bị mọi tiềm lực vật chất và tinh thần để tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.
- Xác lập mối quan hệ kế thừa và phát triển: Chứng minh xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thời bình là bước phát triển biện chứng, kế thừa trực tiếp quy luật xây dựng căn cứ địa cách mạng trong lịch sử. Căn cứ địa thời kỳ tiền khởi nghĩa là vùng căn bản giải phóng trong lòng địch; khu vực phòng thủ hiện đại là tổ chức quốc phòng - an ninh trên từng đơn vị hành chính cấp tỉnh có chủ quyền độc lập, được tổ chức để ngăn chặn chiến tranh xâm lược từ sớm, từ xa.
- Phát triển luận điểm "Căn cứ lòng dân": Luận án nâng tầm lý luận về vai trò của quần chúng: "Căn cứ địa vững chắc nhất của cách mạng chính là lòng dân, chính là sức mạnh đoàn kết chiến đấu của toàn dân". Địa thế tự nhiên chỉ là điều kiện cần; sự ủng hộ, giác ngộ của nhân dân mới là điều kiện đủ tạo nên sức mạnh vô địch.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được thiết lập dựa trên sự tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: Triết học Mác - Lênin về quy luật chiến tranh cách mạng; Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; và Lý thuyết hiện đại về phòng thủ khu vực đa tầng.
Khung phân tích vận hành dựa trên 4 mệnh đề cấu trúc (Propositions):
- Proposition 1 (P1): Nếu một địa phương xây dựng được "thế trận lòng dân" vững chắc (nhân hòa) thì tiềm lực chính trị - tinh thần sẽ chuyển hóa thành sức đề kháng chống lại mọi thủ đoạn "diễn biến hòa bình" và bạo loạn lật đổ.
- Proposition 2 (P2): Địa thế tự nhiên (địa lợi) kết hợp với công trình phòng thủ nhân tạo tạo thành hệ thống phòng thủ liên hoàn "tiến vi công, thoái vi thủ", hạn chế ưu thế vũ khí công nghệ cao của đối phương.
- Proposition 3 (P3): Kết hợp kinh tế với quốc phòng theo nguyên tắc tự lực, tự cường thời kỳ căn cứ địa tạo ra nguồn hậu cần tại chỗ bền vững cho khu vực phòng thủ.
- Proposition 4 (P4): Nguyên tắc "chính trị trọng hơn quân sự", "người trước, súng sau" là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy Đảng đối với lực lượng vũ trang địa phương.
Điều kiện biên (Boundary Conditions): Mô hình này vận hành tối ưu trong điều kiện thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy lực lượng vũ trang nhân dân (Bộ đội chủ lực, Bộ đội địa phương, Dân quân tự vệ) làm nòng cốt trên phạm vi lãnh thổ hành chính cấp tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ lập trường nhận thức luận của Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) và phép duy vật biện chứng. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level mixed-qualitative design) được triển khai qua 3 cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết 28-NQ/TW), pháp luật Nhà nước (Luật Quốc phòng 2018, Nghị định 21/2019/NĐ-CP).
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Thực tiễn tổ chức và vận hành khu vực phòng thủ tại 63 tỉnh, thành phố thuộc 7 quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Mô hình làng, xã chiến đấu, cụm kinh tế - quốc phòng, ban chỉ huy quân sự cấp huyện, xã.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm ngặt qua 4 bước:
- Khảo cứu và giám định văn bản lịch sử: Phân tích toàn bộ các tác phẩm, chỉ thị, bài viết, thư từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1941 - 1969 trong bộ Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật) liên quan đến căn cứ địa (Cao Bằng, Bắc Sơn - Võ Nhai, Tân Trào, Căn cứ địa Việt Bắc, Khu Giải phóng).
- Kỹ thuật thu thập dữ liệu thực chứng: Tổng hợp báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các ban, bộ, ngành Trung ương và 63 tỉnh, thành phố; phân tích các văn kiện đại hội Đảng bộ cấp tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020, 2020-2025.
- Phương pháp chuyên gia và kỹ thuật Delphi: Luận án thực hiện tham vấn ý kiến sâu của các tướng lĩnh quân đội, các nhà khoa học lịch sử quân sự, các chuyên gia Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Học viện Quốc phòng và Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
- Phương pháp tam giác đạc (Triangulation): Luận án áp dụng tam giác đạc lý thuyết (kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận quân sự Mác - Lênin và lý thuyết an ninh phi truyền thống) và tam giác đạc dữ liệu (kết hợp văn bản lịch sử, số liệu báo cáo tổng kết thực tiễn và phỏng vấn chuyên gia).
Data và phân tích
Dữ liệu của luận án bao gồm 163 tài liệu tham khảo chính thức, hệ thống nghị quyết, nghị định, thông tư của Đảng và Chính phủ, cùng dữ liệu tổng kết thực tiễn diễn tập khu vực phòng thủ từ 2008 đến 2022. Phân tích nội dung định tính (Qualitative Content Analysis) kết hợp phương pháp lịch sử - lôgíc cho phép so sánh đối chiếu giữa mô hình căn cứ địa truyền thống và khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố hiện đại theo các trục phân tích: Cơ cấu lãnh đạo, tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, thế trận tác chiến và bảo đảm hậu cần.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án chỉ ra 4 phát hiện then chốt có giá trị thực tiễn và lý luận cao:
Thứ nhất, quy luật cốt tử "Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa" và sự chuyển hóa trong thời bình. Luận án trích dẫn khẳng định của Hồ Chí Minh: "Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa" nhằm xây dựng lực lượng, tích trữ nguồn lực và sức mạnh tổng hợp. Nghiên cứu chứng minh rằng trong điều kiện bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quy luật này chuyển hóa thành: "Muốn bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, dứt khoát phải xây dựng các tỉnh, thành phố thành các khu vực phòng thủ vững chắc".
Thứ hai, phát hiện về sự kết hợp giữa địa thế hiểm yếu và lòng dân. Hồ Chí Minh đúc kết: "Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch". Luận án chứng minh rằng địa thế hiểm trở của căn cứ địa hay hệ thống công sự hiện đại chỉ phát huy tác dụng khi hòa quyện với "thế trận lòng dân". Người nhấn mạnh: "sự ủng hộ của dân chúng chính là cái tường lũy che chở cho mình", "Gốc có vững cây mới bền / Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân".
Thứ ba, nhận diện những điểm nghẽn và mâu thuẫn thực tiễn giai đoạn 2008 - 2022. Luận án chỉ rõ:
- Nhận thức của một bộ phận cán bộ về vị trí chiến lược của khu vực phòng thủ còn phiến diện, coi đây là nhiệm vụ riêng của lực lượng vũ trang.
- Sự kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh tại nhiều địa phương ven biển, đô thị lớn còn lỏng lẻo, nặng về lợi ích kinh tế ngắn hạn.
- Nguồn lực đầu tư cho các công trình quốc phòng trọng điểm trong khu vực phòng thủ tỉnh chưa tương xứng với yêu cầu tác chiến hiện đại.
Thứ tư, nguyên tắc "Chính trị trọng hơn quân sự" và "Người trước, súng sau". Nghiên cứu làm sáng tỏ quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh: Khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (12/1944), Người đã định hình nguyên tắc chính trị là gốc của quân sự. Đối với khu vực phòng thủ tỉnh hiện nay, việc xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, chính quyền cơ sở vững mạnh là điều kiện tiên quyết để tạo dựng tiềm lực chính trị - tinh thần.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận của chuyên ngành Hồ Chí Minh học trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng; làm sáng tỏ tính liên tục của tư duy quân sự Việt Nam từ truyền thống dựng nước, giữ nước đến thời đại Hồ Chí Minh.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp khung đánh giá toàn diện năng lực phòng thủ cấp tỉnh dựa trên 4 trụ cột tiềm lực: Chính trị - tinh thần, Kinh tế - xã hội, Quân sự - an ninh, Khoa học - công nghệ.
- Về mặt chính sách và ứng dụng thực tiễn:
- Quy hoạch không gian chiến lược: Tích hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 với quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ, đảm bảo tính "lưỡng dụng" của mọi công trình giao thông, y tế, viễn thông.
- Xây dựng tiềm lực lòng dân: Nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng - an ninh cho toàn dân, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giải quyết dứt điểm các điểm nóng tranh chấp đất đai, khiếu kiện phức tạp ở cơ sở để triệt tiêu nguy cơ bất ổn.
- Nâng cao chất lượng diễn tập: Đổi mới nội dung, phương pháp diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện sát với tình huống tác chiến công nghệ cao, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và cứu hộ thảm họa phi truyền thống.
Limitations và Future Research
Luận án chỉ rõ 3 giới hạn nghiên cứu:
- Do tính chất bảo mật của tài liệu quân sự quốc phòng, các số liệu định lượng chi tiết về công sự tác chiến, kho tàng vũ khí và quy mô lực lượng tại từng khu vực phòng thủ tỉnh cụ thể không thể công bố chi tiết mà phải phân tích dưới dạng dữ liệu tổng hợp hóa.
- Khung thời gian thực chứng tập trung chủ yếu từ năm 2008 đến năm 2022, chưa bao quát hết những biến động địa chính trị toàn cầu mới nảy sinh từ các cuộc xung đột vũ trang công nghệ cao gần đây.
- Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào không gian phòng thủ trên bộ và ven biển, chưa đào sâu toàn diện mảng phòng thủ không gian mạng và tác chiến điện tử trong cấu trúc khu vực phòng thủ tỉnh.
Hướng nghiên cứu tương lai:
- Mở rộng nghiên cứu xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong điều kiện tác chiến không gian mạng và bảo vệ chủ quyền dữ liệu số quốc gia.
- Nghiên cứu mô hình liên kết khu vực phòng thủ liên tỉnh, phòng thủ quân khu để ứng phó với các kịch bản chiến tranh phi quy ước thế hệ mới.
- Đánh giá định lượng tác động của các khu kinh tế - quốc phòng đối với sự ổn định an ninh - chính trị tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Đặt nền móng tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành Hồ Chí Minh học, Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng và Khoa học Quân sự tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Quốc phòng và hệ thống các học viện, trường sĩ quan quân đội.
- Ảnh hưởng chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học sắc bén để các cơ quan tham mưu chiến lược (Bộ Quốc phòng, Quân khu) và cấp ủy, chính quyền địa phương hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị về diễn tập và xây dựng thế trận khu vực phòng thủ vững chắc.
- Lợi ích xã hội: Củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; tạo động lực phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên: Tiếp cận hệ thống tư liệu chuẩn xác, khung phân tích logic kết hợp lịch sử và hiện đại về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
- Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND cấp tỉnh, thành phố: Nắm vững cơ chế vận hành của khu vực phòng thủ, từ đó lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng tại địa phương.
- Cơ quan Quân sự địa phương (Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh, Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện): Có cơ sở lý luận vững chắc để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xây dựng quy hoạch thế trận quân sự sát thực tế.
- Cơ quan Hoạch định Chính sách Trung ương: Luận cứ bổ sung để tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII và các nghị quyết chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc hệ thống hóa hoàn chỉnh lý luận về "Căn cứ địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh" và xác lập cơ chế chuyển giao quy luật xây dựng căn cứ địa sang xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thời bình. Luận án đã mở rộng học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng: Chứng minh rằng không gian phòng thủ không chỉ tồn tại trong chiến tranh giải phóng mà phải được chuẩn bị từ thời bình theo phương châm "giữ nước từ khi nước chưa nguy", lấy tiềm lực chính trị - tinh thần của nhân dân làm nền tảng cốt lõi.
2. Đổi mới phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu trước đây thể hiện ở điểm nào?
Trả lời: So với các công trình nghiên cứu sử học thuần túy của Trần Thúy Hiền (2009) hay Nguyễn Thị Phượng (2015) vốn chỉ dừng lại ở việc phục dựng lịch sử căn cứ địa trong kháng chiến chống Mỹ, luận án đã sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành (Chính trị học, Hồ Chí Minh học và Khoa học Quân sự), kết hợp phương pháp phân tích văn bản kinh điển với phương pháp tổng kết thực tiễn 63 tỉnh, thành phố trên nền tảng 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW.
3. Phát hiện bất ngờ nhất rút ra từ dữ liệu nghiên cứu là gì?
Trả lời: Phát hiện cho thấy yếu tố quyết định độ vững chắc của khu vực phòng thủ không nằm ở mức độ kiên cố của công sự bê tông hay hỏa lực kỹ thuật, mà nằm ở "chất lượng thế trận lòng dân" và năng lực tự cung cấp hậu cần tại chỗ. Khi cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở suy giảm uy tín, hoặc khi sự kết hợp kinh tế - quốc phòng bị thương mại hóa thuần túy, sức đề kháng của khu vực phòng thủ sẽ bị xói mòn nghiêm trọng ngay từ thời bình trước các thủ đoạn chiến tranh phi vũ trang.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) trong thực tiễn không?
Trả lời: Có. Luận án cung cấp bộ giải pháp 5 nhóm nhiệm vụ có tính quy trình cao dành cho các địa phương: (1) Nâng cao nhận thức và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng; (2) Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, củng cố "thế trận lòng dân"; (3) Phát triển kinh tế gắn với quốc phòng theo quy hoạch lưỡng dụng; (4) Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương tinh, gọn, mạnh; (5) Hoàn thiện cơ chế phối hợp tác chiến giữa quân đội, công an và các ban ngành trong xử lý tình huống khẩn cấp.
5. Luận án phác thảo chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới như thế nào?
Trả lời: Chương trình nghiên cứu 10 năm tới định hình tập trung vào việc mô hình hóa khu vực phòng thủ thông minh (Smart Defense Area), tích hợp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và hệ thống tác chiến bảo vệ không gian mạng vào cấu trúc phòng thủ tỉnh, thành phố, đáp ứng đòi hỏi của các kịch bản xung đột hỗn hợp (Hybrid Warfare).
Kết luận
Luận án "Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong tình hình mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa" của tác giả Bùi Hồng Cẩn là công trình nghiên cứu khoa học công phu, chuẩn mực và có đóng góp học thuật xuất sắc. Tác phẩm đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp cốt lõi:
- Hệ thống hóa sâu sắc và toàn diện nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa, chỉ rõ bản chất đa chiều của căn cứ địa kháng chiến trong lịch sử.
- Luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan và cơ chế chuyển hóa quy luật xây dựng căn cứ địa cách mạng vào công cuộc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
- Phân tích chân thực, khách quan thực trạng xây dựng khu vực phòng thủ 63 tỉnh, thành phố từ năm 2008 đến nay, chỉ rõ thành tựu, bất cập và các điểm nghẽn chiến lược.
- Đề xuất hệ giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá và khả thi cao nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp của các khu vực phòng thủ địa phương theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
- Cung cấp luận cứ khoa học sắc bén phục vụ công tác giáo dục, nghiên cứu, đào tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chính sách quốc phòng tự vệ của Việt Nam.
Công trình khẳng định chân lý trường tồn trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Sức mạnh bảo vệ non sông đất nước bắt nguồn từ sự hòa quyện giữa địa thế hiểm trở của Tổ quốc với lòng yêu nước nồng nàn và khối đại đoàn kết của toàn thể nhân dân Việt Nam.