Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng HTTT quản lý tài sản trí tuệ Học viện Ngân hàng. Các khái niệm cơ bản Hệ thống thông tin là sự kết hợp của phần cứng, phần mềm và mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, và phân phối các dữ liệu, thông tin và tri thức hữu ích một cách đặc trưng trong bối cảnh của tổ chức. Các tổ chức sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau: đạt được lợi thế cạnh tranh, nắm bắt được nhiều khác hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ.Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức hiện tại và tương lai, việc xây dựng một hệ thống thông tin nhằm hỗ trợ cho các tổ chức là một nhu cầu tất yếu. Hệ thống thông tin quản lý là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lý của tổ chức.
Hệ thống bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những người soạn thảo các quyết định trong tổ chức. Internet là một mạng máy tính toàn cầu trong đó các máy truyền thông với nhau theo một ngôn ngữ chung là TCP/IP. Intranet đó là mạng cục bộ không nối vào Internet và cách truyền thông của chúng cũng theo ngôn ngữ chung là TCP/IP. Mô hình Client - Server là mô hình khách - chủ.
Server chứa tài nguyên dùng chung cho nhiều máy khách (Client) như các tập tin, tài liệu, máy in… Ưu điểm của mô hình này là tiết kiệm về thời gian, tài chính, dễ quản trị hệ thống…Cách hoạt động của mô hình này là máy Server ở trang thái hoạt động (24/24) và chờ yêu cầu từ phía Client. Khi Client yêu cầu thì máy Server đáp ứng yêu cầu đó. Website là một file văn bản chứa những tag HTML hoặc những đọan mã đặc biệt mà trình duyệt Web có thể hiểu và thông dịch được, file được lưu với phần mở rộng là. World Wide Web (WWW): là một dịch vụ phổ biến nhất hiện nay trên Internet.
Dịch vụ này đưa ra cách truy xuất các tài liệu của các máy phục vụ dễ dàng thông qua các giao tiếp đồ họa.Để sử dụng dịch vụ này máy Client cần có một chương trình gọi là Web Browser. Trần Thị Thu Hiền – Lớp HTTTA.K12 Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng HTTTQL Tài sản trí tuệ HVNH theo mô hình chi trả trực tuyến Web Browser là trình duyệt Web, dùng để truy xuất các tài liệu trên các Web Server. Các trình duyệt hiện nay là Internet Explorer, Mozilla Firefox, Google Chrome, Nestcape,. Web Server: là một máy chủ có nhiệm vụ nhận yêu cầu từ trình duyệt Web xử lý những lệnh được đã được lập trình sẵn và trả lại cho người dùng kết quả mà họ đã yêu cầu.
Hình 1-1: Ví dụ về một Web Server cơ bản. Tất cả các Web Server đều hiểu và chạy được các file *.html, tuy nhiên mỗi Web Server lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như IIS của Microsoft dành cho *.; Apache dành cho *.; Sun Java System Web Server của SUN dành cho *p. Máy Web Server là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với những thông tin liên quan khác (các mã Script, các chương trình, và các file Multimedia). Web Server có khả năng gửi đến máy khách những trang Web thông qua môi trường Internet (hoặc Intranet) qua giao thức HTTP - giao thức được thiết kế để gửi các file đến trình duyệt Web và các giao thức khác.
Tất cả các Web Server đều có một địa chỉ IP hoặc cũng có thể có một Domain Name.Giả sử khi bạn đánh vào thanh Address trên trình duyệt của bạn một dòng http://www.com sau đó gõ phím Enter bạn sẽ gửi một yêu cầu đến một Server có Domain Name là www.Server này sẽ tìm trang Web có tên là index.htm rồi gửi nó đến trình duyệt của bạn.Bất kỳ một máy tính nào cũng có thể trở thành một Web Server bởi việc cài đặt lên nó một chương trình phần mềm Server Software và sau đó kết nối vào Internet. Trần Thị Thu Hiền – Lớp HTTTA.K12 Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng HTTTQL Tài sản trí tuệ HVNH theo mô hình chi trả trực tuyến Hiện nay có nhiều bộ phần mềm giúp cho việc biến máy tính cá nhân thành Web Server trở nên đơn giản và tiện dụng hơn như: Xampp, Wamp, Appserv, Vetrigo,…Tất cả các bộ công cụ này đều tích hợp PHP và MySql. Nó được cài đặt, và chạy trên máy tính dùng làm Web Server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể truy cập đến các thông tin của trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng Internet hoặc Intranet. Tri thức và quản trị tri thức Tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin, và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới.
Tri thức được tạo ra và ứng dụng trong đầu óc của những người có nó. Trong một tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các văn bản và tài liệu, mà còn nằm trong thủ tục, quy trình, thông lệ, và nguyên tắc của tổ chức đó. Có nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân loại tri thức, trong đó phổ biến hơn cả là việc phân chia tri thức thành 2 loại: tri thức ẩn và tri thức hiện. Tri thức ẩn hay còn được gọi là “tri thức mềm” có tính chủ quan, duy ý chí, dựa trên nhận thức, kinh nghiệm mà không thể diễn đạt thông qua từ ngữ, lời nói, công thức và gắn liền với những bối cảnh nhất định, vận hành trong bộ não của con người.
Tri thức ẩn bao gồm các kĩ năng nhận thức như niềm tin, hình ảnh, cảm nhận và tư duy cũng như các kĩ năng kĩ thuật như sự thuần thục và bí quyết.tri thức ẩn rất khó diễn đạt, khó chính thức hóa và cũng khó chia sẻ. Loại tri thức này thường được cóp nhặt sau một vài năm. Tri thức hiện có thể hiểu là phần “tri thức cứng” nghĩa là tri thức mang tính khách quan, duy lý. Tri thức hiện được hiện hữu thông qua các con số, văn bản được chia sẻ một cách chính thống và hệ thống hóa theo định dạng dữ liệu, các chỉ số kỹ thuật, hướng dẫn.
Các cuốn sách, giáo trình, nghiên cứu, kỷ yếu, bài báo, luận văn,… thuộc loại tri thức này. Người đọc có thể dễ dàng nắm bắt và chia sẻ thông qua các khóa học hoặc tự đọc tài liệu.Các khái niệm về tri thức được nêu ra trong bài nghiên cứu này thuộc về tri thức hiện. Quản trị tri thức bao gồm một loạt các chiến lược và thực hành được sử dụng trong một tổ chức để xác định, tạo ra, đại diện, đóng góp và có thể duy trì những kiến thức và kinh nghiệm.Những kiến thức và kinh nghiệm đó kết hợp với tri thức, được cá nhân hoặc tổ chức đưa vào ứng dụng, thực hành. Tài sản trí tuệ là các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, bao gồm bản quyền (quyền tác giả) và quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, Trần Thị Thu Hiền – Lớp HTTTA.K12 Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng HTTTQL Tài sản trí tuệ HVNH theo mô hình chi trả trực tuyến giống cây trồng.
Tài sản trí tuệ có đặc tính cơ bản: là sản phẩm sáng tạo, vô hình, tồn tại dưới dạng thông tin, có khả năng lan truyền và có thể được nhiều người cùng chiếm hữu; có khả năng vật chất hóa vô giới hạn, có khả năng tăng trưởng giá trị, dễ bị sao chép, bắt chước. Trong các trường đại học, tài sản trí tuệ thực chất là các công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận án, giáo trình, các tài liệu học tập, các bài viết trên tạp chí, kỷ yếu,… Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ SHTT hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền SHTT. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất cứ phương tiện hay hình thức nào. Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ hình thức nào, bao gồm cả bản sao dưới hình thức điện tử.
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Sự phát triển của CNTT và truyền thông. Ngày nay, Công nghệ thông tin truyền thông thế giới đã có bước tiến nhảy vọt. Đầu tiên phải kể đến đó là sự phát triển của hệ điều hành, của hệ vi xử lý; sự phát triển của mạng di động, mạng Internet và tiếp đó là sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới như: Công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây,…Hiện trên toàn thế giới có tổng cộng 2,28 tỉ người sử dụng Internet.
Top 20 quốc gia có tổng cộng 1,7 tỉ người sử dụng Internet, chiếm 75% người dùng Internet toàn thế giới. Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng CNTT-TT tại Việt Nam phát triển rất nhanh, tỷ lệ người dùng Internet chiếm vị trí hàng đầu tại Đông Nam Á, tạo điều kiện tốt cho các dịch vụ trên mạng Internet phát triển. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo phát triển và ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là Đề án “Sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT-TT". Số thuê bao Internet cả nước tính đến hết tháng 8/2012 đạt 4,4 triệu, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, thuê bao di động đạt 135,8 triệu thuê bao.
Hạ tầng mạng lưới viễn thông, Internet tiếp tục được đầu tư phát triển mạnh mẽ. Cụ thể, hệ thống mạng cáp quang, trạm thu phát sóng thông tin di động và vệ tinh Vinasat-2. Tính đến tháng 11/2012, tổng băng thông truyền dẫn trong nước đạt 454,5 Gb/s và tổng băng thông truyền dẫn quốc tế đạt 340,5 Gb/s. Tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung chuyển VNIX: 130 triệu Gbytes.
Trần Thị Thu Hiền – Lớp HTTTA.K12 Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng HTTTQL Tài sản trí tuệ HVNH theo mô hình chi trả trực tuyến Có 332.vn” đã đăng ký đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 172%/năm; tổng số tên miền tiếng Việt đã đăng ký là 824.417, tổng số địa chỉ IPv4 đã cấp là 14.số lượng địa chỉ IPv6 quy đổi theo đơn vị/64 đã cấp là 54. Hệ thống mạng IPv6 hoạt động ổn định, sẵn sàng kết nối. Độ phủ cáp quang đến cấp xã/phường trên cả nước đạt trên 95%.