CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BÁN HÀNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ 1.1 Khái niêm chung * Khái niệm Thông tin: được hiểu theo nghĩa thông thường là một thông báo hay tin nhận được làm tăng sự hiểu biết của đối tượng nhận tin về một vấn đề nào đó, là sự thể hiện mối quan hệ giữa các sự kiện và hiện tượng. Hệ thống thông tin quản lý: là hệ thống nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho sự quản lý, điều hành của 1 doanh nghiệp (hay nói rộng là của một tổ chức). Thông tin tồn tại dưới hình thức: - Bằng ngôn ngữ, hình ảnh - Mã hiệu hay xung điện.
* Các tính chất của thông tin - Tính tương đối - Tính định hướng - Tính thời điểm - Tính cục bộ * Thông tin và xử lý thông tin trong doanh nghiệp Nhiệm vụ của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp là xử lý các thông tin kinh doanh. Ta hiểu xử lý thông tin là tập hợp những thao tác áp dụng lên thông tin nhằm chuyển chúng về một dạng trực tiếp sử dụng được: làm cho chúng trở thành hiểu được, tổng hợp hơn, truyền đạt hơn, hoặc có dạng đồ họa… Nguyễn Hoàng Vũ -8- K43/41.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Nói cụ thể hơn thì ,ột cử lý thông tin đề cập đến một hay một số các thao tác cơ bản sau: - Ghi nhận và lưu trữ một thông tin lên một giá mang - Sắp xếp các thông tin theo một trật tự nào đó - Tham khảo thông tin ( chẳng hạn tham khảo một tệp, một cơ sở dữ liệu, tìm kiếm tài liệu…) - Điều chỉnh dạng của thông tin - Điều chỉnh nội dung thông tin - Từ một số thông tin rút ra một thông tin khác ( tính toán, kết xuất…) - Chuyển thông tin đi xa (viễn thông) - Phân phối thông tin tới một người hay một nhóm người (truyền đạt ) 1.2 Một số mô hình Hệ thống thông tin - Mô hình Logic Mô tả hệ thống làm gì: dữ liệu mà nó thu thập, xử lý mà nó phải thực hiện, các kho để chứa các kết quả hoặc dữ liệu để lấy ra cho các xử lý và những thông tin mà hệ thống sản sinh ra. Mô hình này trả lời các câu hỏi “Cái gì?” và “Để làm gì?”. Nó không quan tâm tới phương tiện được sử dụng cũng như địa điểm hoặc thời điểm mà dữ liệu được xử lý.
Mô hình của hệ thống gắn ở quầy tự động dịch vụ khách hàng do giám đốc dịch vụ mô tả thuộc mô hình lôgíc này. - Mô hình vật lý ngoài Mô hình vật lý ngoài chú ý tới những khía cạnh nhìn thấy được của hệ thống như là các vật mang dữ liệu và vật mang kết quả cũng như hình thức của đầu vào và của đầu ra, phương tiện để thao tác với hệ thống, những dịch vụ, bộ phận, con người và vị trí công tác trong hoạt động xử lý, các thủ tục thủ công cũng như những yếu tố về địa điểm thực hiện xử lý dữ liệu, loại màn hình hoặc bàn phím được sử dụng. Mô hình này cũng chú ý tới mặt thời gian của hệ thống, nghĩa là về những thời điểm mà các Nguyễn Hoàng Vũ -9- K43/41.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP hoạt động xử lý dữ liệu khác nhau xảy ra. - Mô hình vật lý trong Liên quan tới những khía cạnh vật lý của hệ thống tuy nhiên không phải là cái nhìn của người sử dụng mà là của nhân viên kỹ thuật.
Chẳng hạn đó là những thông tin liên quan tới loại trang thiết bị được dùng để thực hiện hệ thống, dung lượng kho lưu trữ và tốc độ xử lý của thiết bị, tổ chức vật lý của dữ liệu trong kho chứa, cấu trúc của các chương trình và ngôn ngữ thể hiện. Mô hình này giải đáp câu hỏi : “Như thế nào?” Mỗi mô hình là kết quả của một góc nhìn khác nhau, mô hình logic là kết quả của góc nhìn quản lý, mô hình vật lý ngoài là của góc nhìn sử dụng, và mô hình vật lý trong là của góc nhìn kỹ thuật. Ba mô hình trên có độ ổn định khác nhau, mô hình logic là ổn định nhất và mô hình vật lý trong là hay biến đổi nhất.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BÁN HÀNG 1.1 Nhiệm vụ chung của kế toán bán hàng Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra các loại sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãm nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị sản phẩm, hàng hóa thông qua hoạt động bán hàng.
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàngđồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất – kinh doanh, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán. Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ kinh doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, tăn lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để thực hiện được quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải phát sinh các khoản chi phí làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ dưới hình thức các khoản Nguyễn Hoàng Vũ - 10 - K43/41.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP tiền chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu.
Đồng thời, doanh nghiệp cũng thu được các khoản doanh thu và thu nhập khác, đó là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. {{ Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp. Để cung cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng về một doanh nghiệp, cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán. Những phương pháp mà một doanh nghiệp sử dụng để ghi chép và tổng hợp thành các báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán.
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với phần lớn lợi ích và rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, đây là quá trình chuyển hoá vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hoá sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán. Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Kế toán bán hàng có nhiệm vụ phải phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại sản phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị.
Đồng thời, cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP 1.2 Các ngiệp vụ cơ bản của kế toán bán hàng - Nhập kho hàng hoá do mua ngoài Nợ TK 156 – Hàng hoá Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ Có TK 111,112,331… - Tổng giá thanh toán - Xuất kho hàng hóa ,thành phẩm đem bán Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán Có TK 156,155 – Hàng hóa, Thành phẩm - Phản ánh doanh thu bán hàng Nợ TK 111,112,131… (Tổng giá thanh toán) Có TK 511 -(Giá bán chưa thuế) Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp - Chiết khấu thương mại Nợ TK 521 – (Chiết khấu thương mại) Có TK – (Phải thu của khách hàng) - Khi thu được tiền của khách hàng Nợ TK 111,112 Có TK 131 -Phải thu khách hàng Nguyễn Hoàng Vũ - 12 - K43/41.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ VẬN TẢI XI MĂNG 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ VẬN TẢI XI MĂNG 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Công ty vật tư vận tải xi măng là doanh nghiệp nhà nước hoạch toán kinh tế độc lập,Trực thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam .Dược thành lập theo quyết đình số 842 / BXD -TCCB ngày 03/12/1990 của bộ trưởng bộ xây dựng trên cơ sở hợp nhất xí nghiệp cung ứng vật tư thiết bị xi măng và Công ty Vận Tải - Bộ xây dựng. Công ty chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 05/01/1991. Ngày 12/02/1993 Bộ trưởng bộ xây dựng ban hành quyết định số 022A/BXD- TCLD Thành lập lại công ty Vật tư vận tải xi măng. Ngày 22/02/2006 Bộ trưởng đã có quyết định số 280/QD-BXD về việc chuyển doanhnghiệp nhà nước Công ty vật tư vận tải xi măng thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam thành Công ty Cổ phần Vật tư vận tải xi măng.
Công ty chính thức đi vào hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày 24/04/2006 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103011963 do sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp.2 Giới thiệu chung và cơ cấu tổ chức của công ty * Giới thiệu chung Tên đầy đủ: Công ty cổ phần vật tư vận tải xi măng Website: www.vn Email: vtvxm@vnn.vn Chủ tịch hội đồng quản trị: Ông Trần Quang Tuấn Nguyễn Hoàng Vũ - 13 - K43/41.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.