Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của quốc hội cần nộp vào lưu trữ cơ quan002

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu quốc hội cần nộp vào lưu trữ cơ quan đảm bảo quản lý hiệu quả.

Chuyên ngành

Lưu trữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

295
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2. MỞ ĐẦU

2.1. Tính cấp thiết của đề tài

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

2.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận

2.7. Nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo

2.8. Những đóng góp mới của luận án

2.9. Bố cục của luận án

3. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN VÀ THÀNH PHẦN TÀI LIỆU CỦA QUỐC HỘI NỘP LƯU VÀO LƯU TRỮ CƠ QUAN

3.1. Tình hình nghiên cứu về nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

3.2. Nghiên cứu ở trong nước

3.3. Nghiên cứu ở nước ngoài

3.4. Tình hình nghiên cứu về nguồn và thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

3.5. Nhận xét về kết quả nghiên cứu và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

3.6. Nhận xét chung

3.7. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

4. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XÂY DỰNG DANH MỤC NGUỒN VÀ THÀNH PHẦN TÀI LIỆU CỦA QUỐC HỘI NỘP LƯU VÀO LƯU TRỮ CƠ QUAN

4.1. Cơ sở lý luận về xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

4.2. Một số khái niệm cơ bản. Nguyên tắc xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

4.3. Phương pháp xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

4.4. Tiêu chuẩn xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

4.5. Ý nghĩa, tác dụng của việc xác định nguồn, thành phần tài liệu và danh mục nguồn, thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

4.6. Mối quan hệ giữa danh mục nguồn nộp lưu và danh mục thành phần tài liệu nộp lưu với một số công cụ lưu trữ khác

4.7. Cơ sở pháp lý về xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

4.8. Quy định, hướng dẫn của Nhà nước liên quan đến công tác nộp lưu tài liệu vào lưu trữ cơ quan

4.9. Một số nhận xét quy định, hướng dẫn của Nhà nước về công tác nộp lưu tài liệu vào lưu trữ cơ quan

5. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG DANH MỤC NGUỒN VÀ THÀNH PHẦN TÀI LIỆU CỦA QUỐC HỘI NỘP LƯU VÀO LƯU TRỮ CƠ QUAN

5.1. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Quốc hội

5.2. Vị trí, chức năng của Quốc hội

5.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội

5.4. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội

5.5. Thẩm quyền thu thập tài liệu vào lưu trữ cơ quan của Văn phòng Quốc hội

5.6. Sự hình thành tài liệu Phông Lưu trữ Quốc hội và giá trị tài liệu lưu trữ của Quốc hội

5.6.1. Sự hình thành tài liệu Phông Lưu trữ Quốc hội

5.6.2. Giá trị và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ của Quốc hội

5.7. Thực trạng công tác nộp lưu tài liệu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan

5.8. Văn bản quy định, hướng dẫn công tác nộp lưu tài liệu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan

5.9. Nguồn và thành phần tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan VPQH

5.10. Tình hình tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

5.11. Các loại hình tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

5.12. Đặc điểm hồ sơ, tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

5.13. Một số nhận xét về công tác nộp lưu tài liệu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan

6. PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH XÂY DỰNG DANH MỤC NGUỒN VÀ THÀNH PHẦN TÀI LIỆU CỦA QUỐC HỘI NỘP LƯU VÀO LƯU TRỮ CƠ QUAN

6.1. Căn cứ xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.2. Nguyên tắc, yêu cầu xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.3. Nguyên tắc, yêu cầu xây dựng danh mục nguồn nộp lưu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan

6.4. Nguyên tắc, yêu cầu xây dựng danh mục thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.5. Phương pháp, quy trình xây dựng danh mục nguồn nộp lưu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan

6.5.1. Phương pháp

6.5.2. Quy trình

6.6. Phương pháp, quy trình xây dựng danh mục thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.6.1. Phương pháp

6.6.2. Quy trình

6.7. Đề xuất danh mục và hướng dẫn sử dụng danh mục nguồn, thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.7.1. Đề xuất danh mục nguồn và danh mục thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.7.2. Hướng dẫn sử dụng danh mục nguồn và danh mục thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

6.8. Một số đề xuất, kiến nghị

6.8.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến công tác nộp lưu tài liệu vào lưu trữ cơ quan nói chung và của QH nói riêng

6.8.2. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về công tác lưu trữ

6.8.3. Tăng cường công tác lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác lưu trữ tại các cơ quan, đơn vị, cá nhân

6.8.4. Tham khảo kinh nghiệm của một số nước khác

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan cách xây dựng danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ cơ quan

Việc xây dựng danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ cơ quan là bước đầu tiên và quan trọng trong công tác quản lý tài liệu lưu trữ. Tài liệu lưu trữ cơ quan Quốc hội không chỉ phản ánh hoạt động lập pháp, giám sát mà còn là nguồn tư liệu quý giá phục vụ nghiên cứu lịch sử, chính trị và pháp luật. Tuy nhiên, công tác này đang đối mặt với nhiều thách thức như sự đa dạng, phức tạp của tài liệu, thiếu quy định cụ thể về nguồn và thành phần tài liệu cần nộp lưu. Nghiên cứu tổng quan cho thấy, các công trình trong và ngoài nước chủ yếu tập trung vào lưu trữ lịch sử, còn lưu trữ cơ quan, đặc biệt là của Quốc hội, chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Việc xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan sẽ giúp chuẩn hóa quy trình, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ tài liệu, đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về lưu trữ.

1.1. Tổng quan nghiên cứu về danh mục tài liệu lưu trữ Quốc hội

Các nghiên cứu trong nước và quốc tế đã đề cập đến việc xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào lưu trữ lịch sử. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về quy trình nộp tài liệu Quốc hội còn hạn chế, chưa có công trình tổng thể về xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu trữ cơ quan. Các nghiên cứu này chỉ ra sự cần thiết xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu để làm cơ sở pháp lý và nghiệp vụ cho công tác lưu trữ.

1.2. Thách thức trong quản lý tài liệu lưu trữ cơ quan Quốc hội

Công tác quản lý tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Quốc hội còn gặp nhiều khó khăn như: thiếu quy định cụ thể về nguồn nộp lưu, thành phần tài liệu chưa được xác định rõ, chất lượng hồ sơ chưa đồng đều, tài liệu phân tán và chưa được tổ chức khoa học. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ Quốc hội.

II. Hướng dẫn cơ sở lý luận và pháp lý xây dựng danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ

Cơ sở lý luận về xây dựng danh mục tài liệu Quốc hội dựa trên các khái niệm về tài liệu lưu trữ, nguyên tắc xác định nguồn và thành phần tài liệu, cũng như các tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu có giá trị. Về pháp lý, Luật Lưu trữ năm 2011 và các văn bản hướng dẫn liên quan tạo nền tảng pháp lý cho công tác thu thập, nộp lưu tài liệu. Việc nghiên cứu kỹ các quy định này giúp xây dựng danh mục phù hợp với đặc thù hoạt động của Quốc hội, đảm bảo tính pháp lý và hiệu quả quản lý tài liệu.

2.1. Khái niệm và nguyên tắc xác định tài liệu lưu trữ Quốc hội

Tài liệu lưu trữ là các tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn và nghiên cứu. Nguyên tắc xác định tài liệu lưu trữ bao gồm tính đầy đủ, tính pháp lý, tính giá trị thông tin và tính bảo mật. Đối với Quốc hội, tài liệu lưu trữ phản ánh chức năng lập pháp, giám sát và các hoạt động quan trọng khác, do đó cần được lựa chọn kỹ lưỡng theo các tiêu chuẩn phù hợp.

2.2. Cơ sở pháp lý và chính sách lưu trữ tài liệu Quốc hội

Luật Lưu trữ năm 2011 là văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định về công tác lưu trữ tài liệu, trong đó có quy định về việc nộp lưu tài liệu vào lưu trữ cơ quan. Các chỉ thị, thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ và Thủ tướng Chính phủ cũng bổ sung các quy định chi tiết về tiêu chuẩn, quy trình nộp lưu tài liệu. Đặc biệt, các quy định này cần được vận dụng linh hoạt để phù hợp với đặc thù tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

III. Phương pháp và quy trình xây dựng danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ cơ quan hiệu quả

Xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của Quốc hội cần áp dụng các phương pháp khoa học như phân tích chức năng, hệ thống, thống kê, lịch sử và so sánh. Quy trình xây dựng danh mục bao gồm các bước: xác định căn cứ pháp lý, khảo sát thực trạng tài liệu, phân loại tài liệu theo chức năng và giá trị, xây dựng bản danh mục sơ bộ, lấy ý kiến đóng góp và hoàn thiện danh mục. Việc áp dụng quy trình này giúp đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và khả thi của danh mục tài liệu.

3.1. Phương pháp xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu

Phương pháp phân tích chức năng giúp xác định các cơ quan, đơn vị, cá nhân là nguồn hình thành tài liệu. Phương pháp hệ thống giúp phân loại tài liệu theo chức năng, nhiệm vụ. Phương pháp thống kê và khảo sát thực tiễn giúp đánh giá số lượng, chất lượng tài liệu hiện có. Phương pháp so sánh giúp tham khảo kinh nghiệm quốc tế và các cơ quan khác để hoàn thiện danh mục.

3.2. Quy trình xây dựng danh mục tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan

Quy trình xây dựng danh mục gồm các bước: (1) Thu thập và nghiên cứu các văn bản pháp luật, quy định liên quan; (2) Khảo sát thực trạng tài liệu và công tác lưu trữ tại Văn phòng Quốc hội; (3) Xác định nguồn nộp lưu và thành phần tài liệu tiêu biểu; (4) Soạn thảo bản danh mục sơ bộ; (5) Lấy ý kiến đóng góp từ các cơ quan, đơn vị liên quan; (6) Hoàn thiện và trình duyệt danh mục; (7) Ban hành và hướng dẫn sử dụng danh mục.

IV. Bí quyết ứng dụng danh mục tài liệu Quốc hội trong quản lý lưu trữ cơ quan

Việc ứng dụng danh mục tài liệu Quốc hội trong quản lý lưu trữ giúp chuẩn hóa công tác thu thập, phân loại và bảo quản tài liệu. Danh mục là công cụ quan trọng để cán bộ lưu trữ và các đơn vị liên quan thực hiện đúng quy trình, đảm bảo tài liệu được lưu trữ đầy đủ, chính xác và bảo mật. Đồng thời, danh mục cũng hỗ trợ trong việc tra cứu, khai thác tài liệu phục vụ nghiên cứu và hoạt động của Quốc hội.

4.1. Vai trò của danh mục tài liệu trong quản lý tài liệu lưu trữ Quốc hội

Danh mục tài liệu giúp xác định rõ nguồn gốc, thành phần và giá trị của từng loại tài liệu, từ đó tạo cơ sở pháp lý và nghiệp vụ cho công tác thu thập và bảo quản. Nó giúp tránh tình trạng tài liệu bị thất lạc, phân tán hoặc lưu trữ không đúng quy định, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng tài liệu.

4.2. Hướng dẫn sử dụng danh mục tài liệu cho các đơn vị thuộc Quốc hội

Các đơn vị thuộc Quốc hội cần được đào tạo, tập huấn về cách sử dụng danh mục tài liệu để thực hiện công tác nộp lưu đúng quy định. Việc áp dụng danh mục giúp các đơn vị chủ động trong việc lập hồ sơ, lựa chọn tài liệu có giá trị để nộp lưu, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Quốc hội trong quản lý tài liệu lưu trữ.

V. Phân tích thực trạng và kết quả nghiên cứu về danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ

Thực trạng công tác nộp lưu tài liệu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan cho thấy có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại hạn chế như chưa đầy đủ nguồn nộp lưu, thành phần tài liệu chưa được giao nộp đầy đủ, chất lượng hồ sơ chưa cao. Các nghiên cứu khoa học đã đề xuất các giải pháp và xây dựng danh mục nguồn, thành phần tài liệu tiêu biểu nhằm nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và nghiệp vụ lưu trữ của Quốc hội.

5.1. Thực trạng công tác nộp lưu tài liệu của Quốc hội tại Văn phòng Quốc hội

Khảo sát thực tế cho thấy, một số nguồn nộp lưu của Quốc hội chưa giao nộp tài liệu đầy đủ, đặc biệt là tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Chất lượng hồ sơ, tài liệu nộp lưu còn hạn chế, gây khó khăn cho việc tổ chức khoa học và khai thác tài liệu. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu quy định cụ thể về nguồn và thành phần tài liệu cần nộp lưu.

5.2. Kết quả nghiên cứu và đề xuất danh mục tài liệu tiêu biểu của Quốc hội

Nghiên cứu đã đề xuất danh mục các cơ quan, đơn vị, cá nhân là nguồn nộp lưu và danh mục thành phần tài liệu tiêu biểu của Quốc hội cần nộp vào lưu trữ cơ quan. Các danh mục này được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận, pháp lý và khảo sát thực tiễn, đảm bảo tính khoa học và khả thi. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan.

VI. Kết luận và triển vọng phát triển danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ cơ quan

Xây dựng và áp dụng danh mục tài liệu Quốc hội nộp lưu trữ cơ quan là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ, bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ Quốc hội. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý, phương pháp và quy trình xây dựng danh mục, đồng thời đề xuất các danh mục cụ thể và giải pháp thực tiễn. Trong tương lai, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin và mở rộng nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác lưu trữ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

6.1. Tầm quan trọng của danh mục tài liệu trong công tác lưu trữ Quốc hội

Danh mục tài liệu là công cụ quản lý quan trọng giúp chuẩn hóa công tác thu thập, bảo quản và khai thác tài liệu lưu trữ Quốc hội. Nó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, bảo vệ di sản tài liệu quý giá của quốc gia và phục vụ nghiên cứu khoa học, lịch sử lâu dài.

6.2. Định hướng phát triển và hoàn thiện công tác xây dựng danh mục tài liệu

Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan, tăng cường đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ lưu trữ, ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài liệu và mở rộng phạm vi nghiên cứu để xây dựng danh mục tài liệu phù hợp với sự phát triển của Quốc hội và yêu cầu quản lý hiện đại.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quốc hội Việt Nam “là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. QH thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”1. Tài liệu hình thành trong hoạt động của QH, các cơ quan của QH có ý nghĩa trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội.

Các khối tài liệu đó hình thành Phông Lưu trữ gọi là Phông Lưu trữ Quốc hội (gọi tắt là Phông Quốc hội). Phông Quốc hội là một trong những thành phần quan trọng đặc biệt của Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam, là di sản quý giá của quốc gia, dân tộc, Nhà nước ta cần phải quản lý tập trung thống nhất. Công tác thu thập tài liệu có những ảnh hưởng và quyết định đến hiệu quả các khâu nghiệp vụ khác trong công tác lưu trữ, tác động không nhỏ hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bởi tài liệu được thu thập tốt thì sẽ là nguồn cung tốt phục vụ có hiệu quả cho công tác nghiên cứu, sử dụng cũng như nâng cao hiệu quả công việc của cơ quan, đơn vị, cá nhân.

Hiện nay, dưới thời đại bùng nổ thông tin, đặc biệt là sự phát triển của khoa học công nghệ (ngày này là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - 4.0), chúng ta đã và đang phải đối mặt với làn sóng tài liệu với tốc độ ngày càng lớn, đa dạng và phức tạp. Điều đó đặt ra những thách thức cho công tác lưu trữ và người làm công tác lưu trữ, nhất là trong việc lựa chọn tài liệu để lưu trữ. Chính vì vậy, các nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước đã và đang rất quan tâm nghiên cứu bài toán trong công tác thu thập tài liệu vào lưu trữ, cụ thể là về xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ. Nhận thấy được tầm quan trọng của công tác lưu trữ và những yêu cầu đặt ra, năm 2011 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Lưu trữ, Luật được thi hành sẽ "góp phần quan trọng vào việc thực hiện cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức đồng thời, tiết kiệm chi phí cho việc chỉnh lý tài liệu tích đống và 1 Điều 69 Hiến pháp (năm 2013) và Điều 1 Luật tổ chức Quốc hội (năm 2014).

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lựa chọn giữ lại được những hồ sơ, tài liệu có giá trị nộp vào lưu trữ cơ quan, phục vụ cho hoạt động thực tiễn và nghiên cứu lịch sử sau này”2. Sau năm năm Luật Lưu trữ có hiệu lực thi hành, ngày 07/9/2017 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 35/CT-TTg về tăng cường công tác lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan, lưu trữ lịch sử. Trong đó đã đánh giá thực trạng: “Công tác lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan của các Bộ, ngành và địa phương đã có những chuyển biến tích cực. Tài liệu tại các lưu trữ lịch sử, lưu trữ các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương từng bước… góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, việc lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan… hiện vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập;… tài liệu lưu trữ còn phân tán ở nhiều nơi; tình trạng giao nộp tài liệu chưa đúng quy định vào lưu trữ cơ quan còn phổ biến, nhất là các đơn vị trực thuộc cấp dưới, gây khó khăn cho việc tổ chức khoa học tài liệu và lựa chọn tài liệu đến hạn nộp lưu vào lưu trữ lịch sử các cấp” [83]. Công tác lưu trữ tại VPQH không nằm ngoài tình trạng chung này. Qua khảo sát thực tiễn tại VPQH cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác nộp lưu tài liệu của QH vào lưu trữ cơ quan còn những hạn chế, khó khăn nhất định: Một số nguồn nộp lưu của QH vào lưu trữ cơ quan chưa giao nộp tài liệu; vẫn còn những thành phần tài liệu quan trọng chưa giao nộp đầy đủ (như tài liệu về bầu cử ĐBQH và Hội đồng nhân dân các cấp; tài liệu hình thành trong hoạt động của một số cơ quan của QH,.); chất lượng hồ sơ, tài liệu nộp lưu chưa tốt. Những hạn chế trong công tác nộp lưu tài liệu của QH vào lưu trữ cơ quan có tác động nhất định đến hiệu quả, chất lượng Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam.

Một trong những nguyên nhân quan trọng của tồn tại, hạn chế này là: Một số quy định về công tác thu thập tài liệu vào lưu trữ cơ quan còn chung chung và có những nội dung quy định chưa thực sự khả thi, chẳng hạn quy định về thành phần hồ sơ, tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan chưa cụ thể, thời hạn nộp lưu chưa phù hợp với trường hợp đặc thù (như cơ quan hoạt động theo nhiệm kỳ), thiếu quy định, hướng dẫn về xác định nguồn nộp lưu, thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan, v. Đối với Quốc hội có đặc 2 Báo cáo số 3608/BC-BNV ngày 05/11/2009 của Bộ Nội vụ đánh giá tác động dự thảo Luật lưu trữ. Hồ sơ số 8892, Kho Lưu trữ Văn phòng Quốc hội. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thù về tổ chức bộ máy, nhân sự và hoạt động nhưng đến nay chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về nguồn và thành phần tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan để làm căn cứ thu thập tài liệu.

Do đó, công tác xác định nguồn, thành phần tài liệu và thu thập tài liệu vào lưu trữ cơ quan còn có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Trong khoa học lưu trữ, một số lý luận về xác định nguồn, thành tài liệu chủ yếu vận dụng cho lưu trữ lịch sử. Chẳng hạn như: các nguyên tắc, phương pháp, tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu được vận dụng để xây dựng danh mục nguồn nộp lưu vào các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia; danh mục nguồn và danh mục thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ lịch sử tỉnh; danh mục nguồn, danh mục thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ lịch sử của Trung ương Đảng,… Đối với lưu trữ cơ quan, đến nay chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về xây dựng danh mục nguồn, danh mục thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan. Đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu về xây dựng danh mục nguồn và danh mục thành phần tài liệu của Quốc hội nộp vào lưu trữ cơ quan.

Xuất phát từ những lý do trên đặt ra yêu cầu cần phải có nghiên cứu đầy đủ về mặt lý luận và thực tiễn công tác xác định nguồn và thành phần tài liệu của QH để lựa chọn, giao nộp vào lưu trữ cơ quan. Vì vậy, NCS chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng danh mục nguồn và thành phần tài liệu của Quốc hội cần nộp vào lưu trữ cơ quan” làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ học (Mã số: 62. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu chính của Luận án là: - Nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học xây dựng danh mục nguồn và danh mục thành phần tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan. - Nghiên cứu quy trình, phương pháp xây dựng danh mục nguồn và danh mục thành phần tài liệu của Quốc hội nộp lưu vào lưu trữ cơ quan.

- Đề xuất danh mục các cơ quan, đơn vị, cá nhân là nguồn nộp lưu của Quốc hội vào lưu trữ cơ quan và danh mục thành phần tài liệu tiêu biểu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan; một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ của Quốc hội và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật lưu trữ Việt Nam. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận án có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung chính như sau: - Nghiên cứu, hệ thống tổng quan tình hình nghiên cứu về xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp vào lưu trữ cơ quan nói chung và của QH nói riêng. Qua đó đưa ra những nhận xét, đánh giá chung về các kết quả nghiên cứu trước và rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

- Nghiên cứu lý luận liên quan xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan: Làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan nội dung luận án, nguyên tắc, phương pháp, tiêu chuẩn xác định nguồn và thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ cơ quan; từ đó vận dụng xác định nguồn và thành phần tài liệu của QH vào lưu trữ cơ quan. - Nghiên cứu, hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn của Nhà nước ta về công tác lưu trữ và liên quan đến công tác nộp lưu tài liệu vào lưu trữ cơ quan; đánh giá hệ thống văn bản này và đưa ra những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện qua thực tiễn tại VPQH. - Nghiên cứu vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, hình thức và quy trình làm việc của QH, UBTVQH, các cơ quan của QH, các cơ quan thuộc UBTVQH và VPQH để thấy sự hình thành tài liệu và giá trị tài liệu của QH, UBTVQH, các cơ quan của QH, cơ quan thuộc UBTVQH và VPQH. Qua đó cho thấy sự hình thành Phông Lưu trữ Quốc hội - một trong những phông quan trọng nhất của Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam.

- Thực trạng công tác nộp lưu tài liệu của QH vào lưu trữ cơ quan VPQH (văn bản của QH, VPQH về công tác nộp lưu tài liệu vào lưu trữ cơ quan; nguồn, thành phần tài liệu của QH nộp vào lưu trữ cơ quan; khối lượng, chất lượng, loại hình và đặc điểm tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan; tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướng mắc trong công tác nộp lưu tài liệu của QH vào lưu trữ cơ quan). - Nghiên cứu tài liệu đang bảo quản tại Kho Lưu trữ cơ quan VPQH để so sánh, đối chiếu với thực tiễn sự hình thành tài liệu trong hoạt động của QH, các cơ quan của QH. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghiên cứu quy trình, phương pháp xây dựng danh mục nguồn, thành phần tài liệu của QH nộp lưu vào lưu trữ cơ quan và đề xuất các bản danh mục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ