Luận văn: Giải pháp xây dựng Đảng ủy Quân sự tỉnh TSVM ở Quân khu 9

Luận văn về xây dựng Đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố vững mạnh tại Quân khu 9. Nghiên cứu chuyên sâu, giải pháp nâng cao chất lượng công tác Đảng.

Trường đại học

Học viện Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Tính cấp thiết của đề tài Công tác QS, QP địa phương

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÍ LUẬN THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TỈNH, THÀNH PHỐ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH Ở QUÂN KHU 9

1.1. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố và những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố trong sạch vững mạnh ở Quân khu 9

1.1.1. Quân khu 9 và Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố ở Quân khu 9

1.1.1.1. Vài nét địa bàn Quân khu 9
1.1.1.2. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 - Quan niệm và cơ cấu tổ chức
1.1.1.2.1. Quan niệm

Tóm tắt

I. Hướng dẫn xây dựng Đảng ủy Quân sự tỉnh TSVM toàn diện

Xây dựng Đảng ủy Quân sự (ĐUQS) tỉnh trong sạch, vững mạnh (TSVM) là nhiệm vụ cốt lõi, có ý nghĩa chiến lược trong toàn bộ công tác quân sự, quốc phòng (QS, QP) địa phương. Đây là quá trình chủ động, sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng nhằm củng cố, kiện toàn, đảm bảo ĐUQS tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Mục tiêu là để nâng cao năng lực lãnh đạosức chiến đấu của tổ chức đảng, đủ khả năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương và lãnh đạo lực lượng vũ trang tỉnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Bối cảnh mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, với những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác này. Việc xây dựng một đảng bộ quân sự vững mạnh toàn diện không chỉ là yêu cầu nội tại của công tác xây dựng Đảng trong quân đội mà còn là nhân tố quyết định đến việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc tại địa phương. Theo tài liệu nghiên cứu, vai trò của ĐUQS tỉnh được xác định là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là trung tâm đoàn kết, trực tiếp quyết định chất lượng thực hiện nhiệm vụ QS, QP. Do đó, việc đầu tư vào xây dựng ĐUQS tỉnh TSVM chính là đầu tư vào sức mạnh chiến đấu và khả năng phòng thủ của khu vực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

1.1. Luận giải vai trò hạt nhân của Đảng ủy trong nhiệm vụ QP AN

ĐUQS tỉnh, thành phố giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị đối với cơ quan quân sự và các đơn vị thuộc quyền. Chức năng của ĐUQS không chỉ giới hạn ở việc lãnh đạo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện (VMTD) mà còn bao gồm nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với tỉnh ủy, thành ủy những chủ trương, biện pháp chiến lược về công tác QS, QP. Tính đúng đắn trong tham mưu và sự sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của ĐUQS là nhân tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ QS, QP tại địa phương. ĐUQS tỉnh là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, quyết định mọi mặt công tác nhằm triển khai nghị quyết, quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đảm bảo gắn xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị một cách hiệu quả.

1.2. Yêu cầu cấp thiết về xây dựng Đảng bộ vững mạnh toàn diện

Sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi sức chiến đấu của tổ chức đảng phải không ngừng được nâng cao. Việc xây dựng ĐUQS tỉnh TSVM trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để đối phó hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Một ĐUQS mạnh sẽ là chỗ dựa tin cậy cho cấp ủy và nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong giải quyết các tình huống phức tạp về an ninh, quốc phòng. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng ĐUQS mạnh về mọi mặt: chính trị kiên định, tư tưởng vững vàng, tổ chức chặt chẽ, cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của một đảng bộ quân sự vững mạnh toàn diện.

II. Thách thức trong việc xây dựng Đảng ủy Quân sự tỉnh TSVM

Quá trình xây dựng ĐUQS tỉnh TSVM phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cả khách quan và chủ quan. Một trong những hạn chế lớn là nhận thức của một số cấp ủy viên và tổ chức về tầm quan trọng của công tác này chưa thực sự đầy đủ, đôi khi còn đồng nhất giữa xây dựng cấp ủy với xây dựng đảng bộ. Tài liệu gốc chỉ ra rằng: “Một số cấp uỷ viên ở một vài ĐUQS tỉnh, thành phố chưa chủ động, tích cực trong tự quán triệt thực hiện những nội dung trong chỉ thị, hướng dẫn... còn biểu hiện dựa dẫm vào cấp uỷ và cơ quan chức năng cấp trên”. Bên cạnh đó, việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, chế độ sinh hoạt Đảng có lúc chưa triệt để. Tự phê bình và phê bình vẫn là một khâu yếu, tình trạng nể nang, né tránh còn tồn tại, làm suy giảm sức chiến đấu của tổ chức đảng. Các thách thức từ bên ngoài, đặc biệt là âm mưu phòng, chống 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa' trong nội bộ, đòi hỏi sự tỉnh táo và các biện pháp quyết liệt. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên đôi khi còn lỏng lẻo, chưa kịp thời phát hiện và ngăn chặn các sai phạm. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, vị thế và hiệu quả lãnh đạo của ĐUQS tỉnh, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ để khắc phục.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và sự phối hợp lãnh đạo chỉ đạo

Thực trạng cho thấy sự phối hợp lãnh đạo giữa Đảng ủy Quân khu và các tỉnh, thành ủy đôi khi chưa thực sự chặt chẽ, thống nhất, gây lúng túng cho cấp dưới trong tổ chức thực hiện. Một số cơ quan chức năng chưa phát huy hết vai trò trong việc hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ. Nhận thức chưa đầy đủ dẫn đến việc cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên còn mang tính hình thức, sao chép, chưa sát với đặc điểm tình hình của địa phương, làm giảm hiệu quả chỉnh đốn Đảng.

2.2. Bất cập trong thực hiện các nguyên tắc và duy trì kỷ luật

Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ ở một vài ĐUQS chưa nghiêm, đôi khi còn biểu hiện vi phạm, độc đoán. Chất lượng sinh hoạt đảng, đặc biệt là sinh hoạt tự phê bình và phê bình chưa cao. “Hiện tượng cấp dưới không dám thẳng thắn phê bình cấp trên, đảng viên không dám phê bình cấp uỷ vẫn khá phổ biến”. Điều này làm suy yếu kỷ luật, kỷ cương trong quân đội, tạo kẽ hở cho các biểu hiện tiêu cực phát sinh, ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.

III. Giải pháp then chốt xây dựng đội ngũ và công tác tư tưởng

Để xây dựng ĐUQS tỉnh TSVM, giải pháp trọng tâm hàng đầu là tập trung vào con người và công tác tư tưởng. Cần tiến hành đồng bộ các biện pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn giỏi và tư duy đổi mới. Phải đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cấp ủy viên, nhất là cán bộ chủ chốt, đảm bảo họ thực sự là tấm gương tiêu biểu về mọi mặt. Công tác chính trị, tư tưởng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nội dung và hình thức đa dạng, phù hợp với từng đối tượng. Mục tiêu là trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, làm cơ sở để nâng cao sức đề kháng trước những luận điệu sai trái, thù địch. Việc phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu, của cán bộ chủ ch trì là biện pháp có sức lan tỏa mạnh mẽ, trực tiếp củng cố niềm tin của quần chúng và tạo động lực cho toàn đơn vị. Đây là nền tảng để ngăn chặn hiệu quả các biểu hiện suy thoái, phòng, chống 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa' ngay từ trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân.

3.1. Nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo cho cấp ủy viên

Cần kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại các học viện, nhà trường với bồi dưỡng qua thực tiễn hoạt động. Nội dung bồi dưỡng phải toàn diện, không chỉ kiến thức về QS, QP mà còn cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Quá trình này giúp cấp ủy viên có tầm nhìn bao quát, năng lực phân tích, dự báo tình hình và khả năng ra quyết định lãnh đạo đúng đắn, kịp thời, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tập thể cấp ủy.

3.2. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức

Tăng cường giáo dục, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đổi mới hình thức giáo dục theo hướng sinh động, dễ tiếp thu. Gắn giáo dục chính trị với rèn luyện đạo đức, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh trong đơn vị, làm cho công tác chính trị, tư tưởng thực sự là vũ khí sắc bén của Đảng.

IV. Phương pháp đổi mới phương thức lãnh đạo và kiểm tra

Song song với việc xây dựng con người, cần phải đổi mới phương thức lãnh đạo của ĐUQS tỉnh để nâng cao hiệu quả và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Cần khắc phục tình trạng nghị quyết chung chung, dàn trải, thay vào đó là các nghị quyết chuyên đề, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những khâu yếu, mặt yếu. Phong cách làm việc của cấp ủy phải khoa học, sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và quần chúng. Một trong những công cụ quan trọng nhất để duy trì kỷ luật và phòng ngừa sai phạm là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Hoạt động này phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, minh bạch, có trọng tâm, trọng điểm. Chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm cần được xây dựng cụ thể, bám sát nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong quân đội và củng cố lòng tin của nhân dân. Qua đó, đảm bảo mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng được thực thi nghiêm túc, góp phần xây dựng một đảng bộ quân sự vững mạnh toàn diện.

4.1. Cải tiến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện hiệu quả

Việc ra nghị quyết phải đảm bảo tính tập thể, dân chủ, phát huy trí tuệ của tất cả cấp ủy viên. Nghị quyết cần xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp và phân công trách nhiệm cụ thể. Sau khi ban hành, phải tổ chức quán triệt sâu rộng và có kế hoạch triển khai, kiểm tra, đôn đốc quyết liệt. Đây là cách đổi mới phương thức lãnh đạo một cách thực chất, đi vào chiều sâu.

4.2. Tăng cường hiệu lực của công tác kiểm tra giám sát kỷ luật

Xây dựng và hoàn thiện quy chế, quy định về công tác kiểm tra, giám sát. Phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra các cấp và sự tham gia giám sát của các tổ chức quần chúng, của cán bộ, đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra của nhà nước và giám sát của nhân dân để tạo sức mạnh tổng hợp, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa.

V. Kinh nghiệm thực tiễn xây dựng Đảng ủy Quân sự tỉnh

Thực tiễn xây dựng ĐUQS các tỉnh, thành phố, đặc biệt tại Quân khu 9, đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Một trong những kinh nghiệm nổi bật là phải luôn gắn xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị. Sự TSVM của tổ chức đảng phải được đo lường bằng kết quả hoàn thành nhiệm vụ QS, QP của địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, nơi nào cấp ủy biết kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng cấp ủy TSVM với xây dựng đơn vị VMTD, giữa xây dựng đội ngũ cấp ủy viên với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, thì nơi đó công tác xây dựng Đảng đạt hiệu quả cao. Việc vận dụng sáng tạo các mô hình như xây dựng chi bộ 'bốn tốt' (lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; chất lượng sinh hoạt tốt; đoàn kết, kỷ luật tốt; cán bộ, đảng viên tốt) đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt từ cấp cơ sở. Đồng thời, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII đã giúp các cấp ủy nhận diện thẳng thắn các biểu hiện suy thoái, từ đó có giải pháp đấu tranh, ngăn chặn quyết liệt, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo một cách bền vững.

5.1. Mô hình xây dựng chi bộ bốn tốt và hiệu quả từ cơ sở

Mô hình xây dựng chi bộ 'bốn tốt' là một sáng kiến kinh nghiệm hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng sinh hoạt và năng lực lãnh đạo ngay từ chi bộ - nền tảng của Đảng. Bằng việc cụ thể hóa các tiêu chí, mô hình này giúp từng đảng viên và tổ chức đảng có định hướng rõ ràng để phấn đấu, tạo ra phong trào thi đua sôi nổi, góp phần xây dựng các tổ chức cơ sở đảng thực sự là pháo đài chính trị vững chắc.

5.2. Kết quả từ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII XIII

Việc triển khai quyết liệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII đã tạo ra một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ. Các cấp ủy đã nghiêm túc tự soi, tự sửa, đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa'. Kết quả là tinh thần đoàn kết, thống nhất được củng cố, kỷ luật, kỷ cương được siết chặt, góp phần quan trọng vào công cuộc chỉnh đốn Đảng.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ Lí LUẬN THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TỈNH, THÀNH PHỐ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH Ở QUÂN KHU 9 1. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố và những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố trong sạch vững mạnh ở Quân khu 9 1.Quân khu 9 và Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 * Vài nét địa bàn Quân khu 9. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập Quân khu 9 vào ngày 10 tháng 12 năm 1945 bao gồm địa bàn rộng khắp đồng bằng sông Cửu Long, hiện nay có 12 tỉnh, thành phố, 116 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, dân số có khoảng 18 triệu người, diện tích tự nhiên 35. Là địa bàn vùng xa, nằm ở phía Nam của Tổ quốc, có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài 202,6 km, có bờ biển dài 740 km, với hơn 100 hòn đảo lớn, nhỏ.

Đáng chú ý là đảo Phú Quốc và quần đảo An Thới, Thổ Châu, Nam Du, Bà Lụa, Hải Tặc.có dân cư sinh sống và có vị trí rất quan trọng cả về kinh tế cũng như QP- AN. Lại có cả vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam với Malaisia, Thái Lan và Cam- Pu-Chia khá phức tạp về địa lý, về lịch sử. Là địa bàn có địa hình trũng, rất thấp so với mực nước biển. Đây vừa là lợi thế cơ bản cho canh tác nông nghiệp, nhưng nhìn ở khía cạnh khác lại có nhiều bất lợi cần phải tính đến, nhất là vào mùa mưa, mực nước cao nhất vào mùa này trung bình ngập sâu từ 2m - 3m.

Do đó, ngoài việc bảo đảm ổn định đời sống nhân dân đã gặp rất nhiều khó khăn vì phải “sống chung với lũ”. Quân khu 9 là địa bàn gắn với vấn đề tôn giáo, dân tộc khá phức tạp về lịch sử, có hơn một triệu đồng bào dân tộc Khmer, chiếm 6,5% dân số, gần một triệu tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo và hàng triệu tín đồ của các tôn giáo khác. Đại bộ phận các dân tộc, các chức sắc, tín đồ tôn giáo đều nhất quán chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của địa phương. 11 Trải qua 65 năm xây dựng và trưởng thành, với truyền thống: “Quân dân đoàn kết, kiên quyết, bám trụ, tự lực, tự cường, anh dũng chiến thắng”, tập trung mọi nỗ lực, chủ động sáng tạo, đạt được những thành tích to lớn, quan trọng trong nhiệm vụ QP-AN, đặc biệt bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

* Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 - Quan niệm và cơ cấu tổ chức Quan niệm ĐUQS tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, là trung tâm đoàn kết của ĐBQS tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu. Cũng như các đảng bộ quân sự địa phương khác, các tổ chức ĐBQS tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu được thành lập theo quy định về Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng trực thuộc Đảng bộ tỉnh, thành phố. ĐBQS tỉnh, thành phố đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của tỉnh, thành uỷ, đồng thời chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ Quân khu về công tác QS, QP. Cơ cấu tổ chức.

Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố gồm các đồng chí uỷ viên công tác trong ĐBQS do đại hội cùng cấp bầu và các đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ và cấp uỷ viên là chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố được chỉ định tham gia. Đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực tiếp làm bí thư. Số lượng và nhân sự cụ thể của ĐUQS tỉnh, thành phố do tỉnh, thành uỷ chỉ đạo sau khi thống nhất với đảng uỷ quân khu, nhưng chỉ từ 11 đến 15 uỷ viên. Ban thường vụ từ 3 đến 5 đồng chí.

Nhiệm kỳ của ĐUQS tỉnh, thành phố thực hiện theo quy định về nhiệm kỳ đại hội và chế độ sinh hoạt của cấp uỷ cấp trên trực tiếp cơ sở. - Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ công tác của ĐUQS tỉnh, thành phố. Chức năng của ĐUQS tỉnh, thành phố. Theo Quy định số 105 QĐ/TW ĐUQS tỉnh, thành phố có hai chức năng: Một là: Lãnh đạo mọi mặt CQQS tỉnh, thành phố, đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền xây dựng tổ chức đảng TSVM, xây dựng đơn vị VMTD.

12 Hai là: Nghiên cứu đề xuất với tỉnh, thành uỷ, đảng uỷ Quân khu những vấn đề liên quan đến thực hiện nhiệm vụ QS, QP địa phương và CTĐ, CTCT trong công tác QS, QP địa phương. Nhiệm vụ của ĐUQS tỉnh, thành phố. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố phải thực hiện đầy đủ 8 nhiệm vụ của đảng uỷ các cấp trong quân đội do Bộ Chính trị (khoá X) quy định tại quy định số 105-QĐ/TW. Trong giai đoạn hiện nay cần chú trọng đề xuất với cấp uỷ, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có hiệu quả việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương VMTD, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; lãnh đạo mọi mặt CQQS và các đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ do tỉnh, thành uỷ và cấp trên giao cho.

Quyền hạn của ĐUQS tỉnh, thành phố. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố giải quyết công việc về Đảng theo quyền hạn của đảng uỷ cấp trên trực tiếp cơ sở. Việc xem xét quyết định điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ quân sự địa phương theo phân cấp quản lý. Đảng uỷ Quân khu cùng tỉnh, thành uỷ bàn bạc nhất trí.

Sau khi đã thống nhất, cấp có thẩm quyền ra quyết định. Nếu có vấn đề chưa nhất trí thì báo cáo cấp uỷ cấp trên. Trường hợp khẩn cấp trong chiến đấu thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền trong quân đội và thông báo cho ban thường vụ tỉnh, thành uỷ. Khi ban Thường Vụ đảng uỷ họp quyết định những vấn đề quan trọng, nhất là các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức và cán bộ, phải có ít nhất 2/3 số thành viên.

Các mối quan hệ công tác của ĐUQS tỉnh, thành phố. Một là: quan hệ của ĐUQS tỉnh, thành phố với cấp uỷ, chính quyền địa phương. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với tỉnh uỷ, thành uỷ, là quan hệ phục tùng sự lãnh đạo và lãnh đạo. 13 Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố chịu sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của tỉnh, thành uỷ, chấp hành nghiêm chỉnh mọi nghị quyết, chỉ thị của tỉnh, thành uỷ, thường xuyên báo cáo với tỉnh, thành uỷ về kết quả thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của tỉnh, thành uỷ, tình hình có liên quan của ĐBQS tỉnh, thành phố và lực lượng vũ trang địa phương thuộc quyền.

Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố là quan hệ giữa phục tùng sự chỉ đạo, điều hành và chỉ đạo điều hành. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố có trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, chấp hành nghiêm chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân về các nhiệm vụ của địa phương, phát huy vai trò của CQQS tỉnh, thành phố giúp Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố cụ thể hoá các nghị quyết, chỉ thị thành kế hoạch thực hiện và hướng dẫn triển khai, theo dõi các cấp, các ngành thực hiện. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quản lý, điều hành, chỉ đạo cấp dưới và các ngành thực hiện tốt công tác QS, QP địa phương; tạo điều kiện thuận lợi cho ĐUQS địa phương và CQQS địa phương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với các ban của tỉnh, thành uỷ là quan hệ chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và chỉ đạo hướng dẫn về công tác xây dựng Đảng.

Với cương vị là cấp uỷ cấp dưới, quan hệ với cơ quan chức năng của cấp uỷ cấp trên, ĐUQS tỉnh, thành phố chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra về công tác theo chức năng, nhiệm vụ của từng ban và báo cáo tình hình có liên quan với các ban đó. Tuy nhiên, về lĩnh vực QS, QP, ĐUQS tỉnh, thành phố lãnh đạo CQQS tỉnh, thành phố hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các ban của tỉnh, thành uỷ về thực hiện nhiệm vụ QS, QP trong cơ quan. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với các ban, ngành của chính quyền và các đoàn thể ở địa phương là quan hệ phối hợp, hiệp đồng công tác. 14 Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố cùng các ban ngành của chính quyền và các đoàn thể địa phương có trách nhiệm chủ động phối hợp để thực hiện các nhiệm vụ do tỉnh, thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân giao cho.

ĐUQS tỉnh, thành phố có trách nhiệm lãnh đạo CQQS tỉnh, thành phố thực hiện tốt vai trò là trung tâm phối hợp, hiệp đồng trong thực hiện công tác QS, QP địa phương. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ thuộc tỉnh (gọi chung là huyện uỷ) là quan hệ phối hợp công tác. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố có trách nhiệm thông báo cho huyện uỷ về tình hình công tác QS, QP địa phương và đề nghị huyện uỷ những vấn đề cần quan tâm giải quyết. Căn cứ vào nghị quyết của tỉnh, thành uỷ về lãnh đạo công tác QS, QP địa phương, ĐUQS tỉnh, thành phố hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi huyện uỷ thực hiện.

Huyện uỷ có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng và CQQS cấp mình thực hiện nghiêm chỉnh các nghị quyết, chỉ thị của ĐUQS và mệnh lệnh của người chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố về nhiệm vụ QS, QP. Trường hợp có vấn đề huyện uỷ chưa thống nhất với ĐUQS tỉnh, thành phố thì cùng nhau bàn bạc hoặc báo cáo lên cấp có thẩm quyền quyết định. Riêng về nhiệm vụ chiến đấu, thực hiện theo chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy CQQS tỉnh, thành phố. Đối với công tác cán bộ và công tác quản lý đảng viên thực hiện theo quyền hạn phân cấp.

Hai là: quan hệ ĐUQS tỉnh, thành phố với các tổ chức trong hệ thống quân sự Quan hệ ĐUQS tỉnh, thành phố với Đảng uỷ Quân khu 9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ