Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ Lí LUẬN THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TỈNH, THÀNH PHỐ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH Ở QUÂN KHU 9 1. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố và những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố trong sạch vững mạnh ở Quân khu 9 1.Quân khu 9 và Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 * Vài nét địa bàn Quân khu 9. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập Quân khu 9 vào ngày 10 tháng 12 năm 1945 bao gồm địa bàn rộng khắp đồng bằng sông Cửu Long, hiện nay có 12 tỉnh, thành phố, 116 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, dân số có khoảng 18 triệu người, diện tích tự nhiên 35. Là địa bàn vùng xa, nằm ở phía Nam của Tổ quốc, có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài 202,6 km, có bờ biển dài 740 km, với hơn 100 hòn đảo lớn, nhỏ.
Đáng chú ý là đảo Phú Quốc và quần đảo An Thới, Thổ Châu, Nam Du, Bà Lụa, Hải Tặc.có dân cư sinh sống và có vị trí rất quan trọng cả về kinh tế cũng như QP- AN. Lại có cả vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam với Malaisia, Thái Lan và Cam- Pu-Chia khá phức tạp về địa lý, về lịch sử. Là địa bàn có địa hình trũng, rất thấp so với mực nước biển. Đây vừa là lợi thế cơ bản cho canh tác nông nghiệp, nhưng nhìn ở khía cạnh khác lại có nhiều bất lợi cần phải tính đến, nhất là vào mùa mưa, mực nước cao nhất vào mùa này trung bình ngập sâu từ 2m - 3m.
Do đó, ngoài việc bảo đảm ổn định đời sống nhân dân đã gặp rất nhiều khó khăn vì phải “sống chung với lũ”. Quân khu 9 là địa bàn gắn với vấn đề tôn giáo, dân tộc khá phức tạp về lịch sử, có hơn một triệu đồng bào dân tộc Khmer, chiếm 6,5% dân số, gần một triệu tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo và hàng triệu tín đồ của các tôn giáo khác. Đại bộ phận các dân tộc, các chức sắc, tín đồ tôn giáo đều nhất quán chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của địa phương. 11 Trải qua 65 năm xây dựng và trưởng thành, với truyền thống: “Quân dân đoàn kết, kiên quyết, bám trụ, tự lực, tự cường, anh dũng chiến thắng”, tập trung mọi nỗ lực, chủ động sáng tạo, đạt được những thành tích to lớn, quan trọng trong nhiệm vụ QP-AN, đặc biệt bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 - Quan niệm và cơ cấu tổ chức Quan niệm ĐUQS tỉnh, thành phố ở Quân khu 9 là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, là trung tâm đoàn kết của ĐBQS tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu. Cũng như các đảng bộ quân sự địa phương khác, các tổ chức ĐBQS tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu được thành lập theo quy định về Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng trực thuộc Đảng bộ tỉnh, thành phố. ĐBQS tỉnh, thành phố đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của tỉnh, thành uỷ, đồng thời chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ Quân khu về công tác QS, QP. Cơ cấu tổ chức.
Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố gồm các đồng chí uỷ viên công tác trong ĐBQS do đại hội cùng cấp bầu và các đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ và cấp uỷ viên là chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố được chỉ định tham gia. Đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực tiếp làm bí thư. Số lượng và nhân sự cụ thể của ĐUQS tỉnh, thành phố do tỉnh, thành uỷ chỉ đạo sau khi thống nhất với đảng uỷ quân khu, nhưng chỉ từ 11 đến 15 uỷ viên. Ban thường vụ từ 3 đến 5 đồng chí.
Nhiệm kỳ của ĐUQS tỉnh, thành phố thực hiện theo quy định về nhiệm kỳ đại hội và chế độ sinh hoạt của cấp uỷ cấp trên trực tiếp cơ sở. - Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ công tác của ĐUQS tỉnh, thành phố. Chức năng của ĐUQS tỉnh, thành phố. Theo Quy định số 105 QĐ/TW ĐUQS tỉnh, thành phố có hai chức năng: Một là: Lãnh đạo mọi mặt CQQS tỉnh, thành phố, đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền xây dựng tổ chức đảng TSVM, xây dựng đơn vị VMTD.
12 Hai là: Nghiên cứu đề xuất với tỉnh, thành uỷ, đảng uỷ Quân khu những vấn đề liên quan đến thực hiện nhiệm vụ QS, QP địa phương và CTĐ, CTCT trong công tác QS, QP địa phương. Nhiệm vụ của ĐUQS tỉnh, thành phố. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố phải thực hiện đầy đủ 8 nhiệm vụ của đảng uỷ các cấp trong quân đội do Bộ Chính trị (khoá X) quy định tại quy định số 105-QĐ/TW. Trong giai đoạn hiện nay cần chú trọng đề xuất với cấp uỷ, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có hiệu quả việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương VMTD, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; lãnh đạo mọi mặt CQQS và các đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ do tỉnh, thành uỷ và cấp trên giao cho.
Quyền hạn của ĐUQS tỉnh, thành phố. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố giải quyết công việc về Đảng theo quyền hạn của đảng uỷ cấp trên trực tiếp cơ sở. Việc xem xét quyết định điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ quân sự địa phương theo phân cấp quản lý. Đảng uỷ Quân khu cùng tỉnh, thành uỷ bàn bạc nhất trí.
Sau khi đã thống nhất, cấp có thẩm quyền ra quyết định. Nếu có vấn đề chưa nhất trí thì báo cáo cấp uỷ cấp trên. Trường hợp khẩn cấp trong chiến đấu thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền trong quân đội và thông báo cho ban thường vụ tỉnh, thành uỷ. Khi ban Thường Vụ đảng uỷ họp quyết định những vấn đề quan trọng, nhất là các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức và cán bộ, phải có ít nhất 2/3 số thành viên.
Các mối quan hệ công tác của ĐUQS tỉnh, thành phố. Một là: quan hệ của ĐUQS tỉnh, thành phố với cấp uỷ, chính quyền địa phương. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với tỉnh uỷ, thành uỷ, là quan hệ phục tùng sự lãnh đạo và lãnh đạo. 13 Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố chịu sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của tỉnh, thành uỷ, chấp hành nghiêm chỉnh mọi nghị quyết, chỉ thị của tỉnh, thành uỷ, thường xuyên báo cáo với tỉnh, thành uỷ về kết quả thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của tỉnh, thành uỷ, tình hình có liên quan của ĐBQS tỉnh, thành phố và lực lượng vũ trang địa phương thuộc quyền.
Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố là quan hệ giữa phục tùng sự chỉ đạo, điều hành và chỉ đạo điều hành. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố có trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, chấp hành nghiêm chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân về các nhiệm vụ của địa phương, phát huy vai trò của CQQS tỉnh, thành phố giúp Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố cụ thể hoá các nghị quyết, chỉ thị thành kế hoạch thực hiện và hướng dẫn triển khai, theo dõi các cấp, các ngành thực hiện. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quản lý, điều hành, chỉ đạo cấp dưới và các ngành thực hiện tốt công tác QS, QP địa phương; tạo điều kiện thuận lợi cho ĐUQS địa phương và CQQS địa phương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với các ban của tỉnh, thành uỷ là quan hệ chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và chỉ đạo hướng dẫn về công tác xây dựng Đảng.
Với cương vị là cấp uỷ cấp dưới, quan hệ với cơ quan chức năng của cấp uỷ cấp trên, ĐUQS tỉnh, thành phố chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra về công tác theo chức năng, nhiệm vụ của từng ban và báo cáo tình hình có liên quan với các ban đó. Tuy nhiên, về lĩnh vực QS, QP, ĐUQS tỉnh, thành phố lãnh đạo CQQS tỉnh, thành phố hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các ban của tỉnh, thành uỷ về thực hiện nhiệm vụ QS, QP trong cơ quan. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với các ban, ngành của chính quyền và các đoàn thể ở địa phương là quan hệ phối hợp, hiệp đồng công tác. 14 Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố cùng các ban ngành của chính quyền và các đoàn thể địa phương có trách nhiệm chủ động phối hợp để thực hiện các nhiệm vụ do tỉnh, thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân giao cho.
ĐUQS tỉnh, thành phố có trách nhiệm lãnh đạo CQQS tỉnh, thành phố thực hiện tốt vai trò là trung tâm phối hợp, hiệp đồng trong thực hiện công tác QS, QP địa phương. Quan hệ giữa ĐUQS tỉnh, thành phố với huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ thuộc tỉnh (gọi chung là huyện uỷ) là quan hệ phối hợp công tác. Đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố có trách nhiệm thông báo cho huyện uỷ về tình hình công tác QS, QP địa phương và đề nghị huyện uỷ những vấn đề cần quan tâm giải quyết. Căn cứ vào nghị quyết của tỉnh, thành uỷ về lãnh đạo công tác QS, QP địa phương, ĐUQS tỉnh, thành phố hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi huyện uỷ thực hiện.
Huyện uỷ có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng và CQQS cấp mình thực hiện nghiêm chỉnh các nghị quyết, chỉ thị của ĐUQS và mệnh lệnh của người chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố về nhiệm vụ QS, QP. Trường hợp có vấn đề huyện uỷ chưa thống nhất với ĐUQS tỉnh, thành phố thì cùng nhau bàn bạc hoặc báo cáo lên cấp có thẩm quyền quyết định. Riêng về nhiệm vụ chiến đấu, thực hiện theo chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy CQQS tỉnh, thành phố. Đối với công tác cán bộ và công tác quản lý đảng viên thực hiện theo quyền hạn phân cấp.
Hai là: quan hệ ĐUQS tỉnh, thành phố với các tổ chức trong hệ thống quân sự Quan hệ ĐUQS tỉnh, thành phố với Đảng uỷ Quân khu 9.